LA KINH THẤU GIẢI
BÁN
LA KINH 36 TẦNG KÈM CHÚ GIẢI TIẾNG VIỆT
MỘT CÔNG CỤ HỮU
ÍCH CHO BẠN VÀ NGƯỜI THÂN, ĐÔI KHI MỘT THAY ĐỔI NHỎ CŨNG GIÚP CUỘC SỐNG TỐT ĐẸP
HƠN

Phong
thuỷ là một “thuyết” được hình thành từ kinh nghiệm thực tế đúc rút lâu đời của
cổ nhân qua các hiện tượng thiên nhiên, môi trường và hoàn cảnh sống. Đã từ
lâu, con người nhận thấy rằng trong tự nhiên vốn đã tồn tại những quy luật nhất
định nào đó, đôi khi mang tính thần bí khó hiểu, khó có thể giải thích căn kẽ
bằng lời hay bằng một công cụ khoa học hiện tại nào đó. Vì những lý do trên mà
phong thuỷ được xét vào là một trong những môn khoa học thực nghiệm. Nó là khoa
học thực nghiệm bởi nó rất chính xác, có quy luật rất rõ ràng và được kiểm
chứng qua thời gian. Các quy luật của tự nhiên vốn rất mạnh mẽ, rất ảo diệu.
Với sức vóc nhỏ nhoi của con người chắc chắn không thể chế phục nó, kể cả cho
đến ngày nay, khi mà nền khoa học hiện đại đã phát triển vượt bậc thì việc chế
ngự cũng có thể nói là khó khả thi. Nên con người đã biết dựa vào các quy luật
này để tìm lành, tránh dữ hay nói theo cổ nhân là xu cát tị hung.
Cổ
thư về phong thuỷ truyền lại đến ngày nay có thể nói là rất nhiều, phần đa là
có giá trị khoa học rất lớn và tính ứng dụng cao. Bên cạnh đó cũng có nhiều man
thư song song tồn tại. Man thư này có thể nói là do các giang hồ thuật sỹ bịa
ra làm mê hoặc lòng người, làm cho phong thuỷ nhuốm màu sắc dị đoan, hoặc là họ
đã sáng tạo trên sự hiểu biết riêng của mình rồi cho rằng cổ nhân sai. Tất
nhiên, không thể khẳng định chắc chắn rằng cổ nhân tất cả đều đúng. Vấn đề
chính ở đây là người học cần phải nghiên cứu kỹ lý thuyết và kết hợp với thực
tế để kiểm chứng. Thực tế ở đây không phải là đem gia tộc, họ hàng, gia chủ ra
mà làm chuột bạch. Phong thuỷ dương trạch nếu làm sai còn có cơ mà sửa chữa lại
hoặc giả bỏ đi nơi khác mà sống. Âm phần thì sao? Mấy ai đã có can đảm và đủ
kiến thức để biết rõ sai mà đào lên đặt lại.
Người
học địa lý, không thể không biết đến la kinh và cách sử dụng. La kinh là một
sáng tạo tuyệt vời của cổ nhân, nó chứa đựng những kiến thức rất tinh tuý được
chắt lọc từ những kiến thức phong thuỷ thâm sâu. Đúng với câu “Ngôn ngôn vạn chữ,
tóm lại chỉ ở một câu”. La kinh thật là lợi hại. Hiện nay, la kinh cũng có
nhiều loại khác nhau, như Tưởng bàn, Huy bàn, … Mỗi loại tuy có khác nhau theo
kiến thức từng nhà, nhưng tựu chung vẫn trên cơ sở lý thuyết chung về phong
thuỷ đã được chấp nhận và ứng dụng qua thực tiễn.
Phong thủy về cơ bản là một môn làm hài
hòa cuộc sống, giảm tai ương tăng thêm phần ổn định. Ứng dụng đơn giản nhất đó
là bát trạch với việc sắp xếp đồ vật trong nhà. La kinh có từ xưa giúp bạn rất
dễ dàng xác định các hướng theo 8 cung( sâu hơn nữa thì dành cho các chuyên gia
phong thủy, đối với người thường thì những điều này cũng có khá nhiều lợi ích
rồi).
Về cơ bản thì một người sẽ thuộc đông tứ
trạch hoăc tây tứ trạch. Đơn giản việc đặt sai bếp vào vị trí hại với chủ nhà
sẽ có thể mang đến những tác hại vô cùng to lớn đối với sức khỏe và tiền tài.
La kinh sẽ giúp bạn xác định các cung trong nhà một cách chính xác, và từ đó
bạn có thể:
- Đặt chính xác bếp ở đâu có lợi
- Đặt bàn thờ đúng chỗ
- Kê giường vào vị trí có lợi cho sức
khỏe tinh thần. Kê bàn làm việc học tập ở một cung thuận lợi hơn.
- Khi đi xem nhà bạn có thể xác định lợi hại đối với mình…
Đây là một công cụ ko chỉ hữu ích cho
bạn mà còn cho cả người thân và người xung quanh. Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ
cũng giúp cuộc sống tốt đẹp hơn. Về cơ bản phong thủy không phải là vạn năng
nhưng ở mức độ thấp đến cao thì đều có tác dụng về mặt tích cực, bạn có thể thử
để thấy điều này.
GIỚI THIỆU VỀ LA KINH 36 TẦNG VÀ CÁCH SỬ
DỤNG
1.
Sơ lược về La kinh 36 tầng kèm chú giải.
La
kinh 36 tầng có kích thước là 36 x 36 cm. Mặt La kinh được làm bằng hợp kim
chống rỉ và chống được ăn mòn khi bị tác động bởi ngoại cảnh, đặc biệt là không
bị phai mờ khi sử dụng. Công nghệ in chuẩn, sắc nét. Kim thiên trì là kim chỉ
nam (mũi tên chỉ về phương nam - 180 độ). Kim La kinh có độ nhạy rất cao, nên
khi đo cần chú ý tránh xa nơi có những đồ vật bằng kim loại, điện từ, tốt nhất
là đặt trên chiếc ghế gỗ. Thân và bàn xoay được chế tác từ gỗ quý rất bền chắc
và quay dễ dàng.
2.
Cách đo hướng Nhà, hướng cửa và vị cửa.
Khi
đo hướng cho một ngôi nhà, ta cần quan tâm đến hướng nhà, hướng cửa và vị cửa.
Có ngôi nhà hướng Nhà trùng với hướng cửa, có ngôi nhà hướng cửa và hướng nhà
khác nhau. Để đo hướng ngôi nhà, ta cần phải xác định được đâu là hướng nhà và
đâu là tâm nhà. Việc xác định hướng và tâm nhà là điều không dễ, nếu xác định
không đúng sẽ dẫn đến việc phân cung điểm hướng nhà sai, mà trong phong thuỷ
sai một lý đi ngàn dặm, người nghiên cứu nên chú ý điểm này. Trở lại vấn đề đo
hướng nhà, ta phải đặt La kinh tại điểm tâm nhà, căn sao cho đường chỉ đỏ dọc
của La kinh hướng thẳng ra trước nhà. Đường chỉ đỏ ngang song song với vách
ngang sau nhà và vuông góc với vách dọc nhà hay hướng nhà (đây là cách xác định
hướng cho nhà hình chữ nhật, hoặc hình đơn giản, hình phức tạp thì cần phải có
cách xác định riêng). Tiếp đó, xoay mặt la kinh sao cho kim thiên trì chỉ đúng
vào 180 độ (độ số trong ao trì). Đến đây ta đã có thể biết được nhà cần đo có
hướng bao nhiêu độ rồi. Cách xác định hướng cửa của ngôi nhà cũng tương tự như
vậy, nhưng khi đặt La kinh ta phải căn cứ vào hướng của Ngạch cửa, cạnh khuôn
cửa để đặt đường chỉ đỏ hướng theo. Khi xác định được tâm nhà và hướng nhà rồi,
ta tiếp tục phân cung cho ngôi nhà theo hai tư sơn hướng và đối chiếu xem cửa
mở thuộc sơn nào trong hai tư sơn, đây chính là vị của cửa mà ta cần tìm.
3. Mục lục các tầng của La Kinh
Tầng
1: Tiên Thiên bát Quái biến thành Hậu Thiên Bát Quái. Tiên Thiên làm cái bản
thể, Hậu Thiên làm cái sử dụng. Dùng Hậu Thiên không được phá Tiên Thiên,chỉ
dùng Hậu Thiên chứ không dùng Tiên Thiên, nhưng vẫn có Tiên Thiên ở bên trong.
Tầng 2: Lạc Thư biến thành Tứ Tượng. Hóa
Hậu Thiên thành Cửu Tinh (9 sao), chia Lục Giáp thành 120 phân kim, ngang dọc
16 cái và 5 số.
Tầng 3: Bát Quái Hoàng Tuyền, tức là
Quan và Quỹ của Tiên Thiên Bát Quái, hòa hợp với Ngũ hành để sử dụng trong
việc: Long thời kỵ Thủy lai, Lập Hướng thì kỵ khắc Long.
Tầng 4: Tứ lộ và Bát lộ Hoàng Tuyền bạch
Hổ ( tức sao sát ) của Địa Chi, quay đi trở lại. Hướng về Bát can thì kỵ Tứ duy
Thủy lai, Hướng Tứ duy thì kỵ bát can Thủy lai; nghĩa là 4 phương Hoàng Tuyền,
8 phương Khắc Sát, nước chảy đi thì tốt , nước chảy lại thì xấu. Nếu phạm thì
hao người tốn của.
Tầng 5: Cửu tinh ứng vào cục đất để phân
biệt Long tốt xấu , coi sắc đất biến đổi mà tìm Huyệt , tương ứng với thứ vị
của 24 vì Thiên tinh mà lấy dùng.
Tầng 6: Kim chính thức của Địa bàn dùng
để xem Long lai, định hướng, thừa khí nhập Huyệt; Lập Trạch, An Phần chọn âm
dương. Tóm lại, cả 36 tầng đều căn cứ ở tầng này vận chuyển mà sử dụng.
Tầng 7: Âm và Dương Long của Tiên Thiên
Bát Quái, Kiền Nam, Khôn Bắc, Ly Đông, Khảm Tây, ở 4 phương chính là Dương;
Chấn, Tốn , Cấn, Đoài ở 4 phương góc tức là Tứ Duy của Tiên Thiên là Âm. Mỗi
quái Nạp Âm đều có Can và Chi là nửa Âm, nửa Dương. Phép biến Thủy không được
sai lầm về Âm Dương.
Tầng 8: Chính Ngũ Hành, tóm hết thảy cả
trong địa bàn, nguồn gốc là do Hà Đồ mà ra, phân Đông Tây Nam Bắc, 24 sơn và sự
tương khắc của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để sử dụng.
Tầng 9: Là Kiếp sát , lấy Tọa Sơn làm
chủ, chỉ kỵ 1 sơn xấu, hoặc nghiêng ngã, vỡ lỡ thôi, còn tốt thì không kỵ.
Tầng 10: Là 72 Long Xuyên Sơn, ở trong
Địa Bàn ghi 60 Giáp Tý, trong 5 cung Tý có 12 chữ chính màu đỏ là để chỉ 4
phương tứ duy và 8 phương bát can, thấu thành 72 Long, lấy lẽ Long Nhập Thủ
thừa tiếp với thấu địa khí 1 mạch rót suốt vào Huyệt, và để phù hợp với 72 thời
tiết mỗi năm.
Tầng 11: Xuyên Sơn làm quẻ gốc, sách Chu
Dịch gọi là Thiên Thông. Trong Kinh Dịch lấy quẻ Kiền làm đầu, nói : Thiên Địa
biến hóa ra quái, hào để bổ trợ cho Lai Long; Tọa Huyệt là chủ của Thể, Dụng.
Tầng 12: Là Trung Châm thuộc về Nhân
Bàn, tham hợp với Thiên - Địa 2 bàn, là Thiên - Địa - Nhân tam tài. Ông Lại
Công lấy để Tiêu Sa và tham hợp với Ai Thiên Tinh và Nhị Thập Bát Tú, để làm
biểu lý, bàn về Thái Dương đáo Sơn, và 12 vị Tiến Xá Tinh; và đến 12 cung phân
ranh giới 24 vị Thiên Tinh, Thấu Địa Kỳ Môn, tất cả đều do tầng Trung bàn này
thông dụng.
Tầng 13: Là 60 Long Thấu Địa. gọi là
Thiên Kỷ , ở phía sau ngôi mộ hay là ngôi nhà khoảng 8 thước chỗ Loan Đầu phân
khí dẫn suốt tới. Có các chữ Vượng, Tướng, Châu Bảo, sát Diệu, Hỏa Khanh, Cô
Hư, Sai Thác và Không Vong, để phân biệt lấy quẻ xung hòa 9x6= 54 là Vượng
Tướng, không xung hòa là Không Vong.
Tầng 14: Là Thấu Địa Kỳ Môn, người ta
lấy 2 quẻ độn Tử Phụ, Tài Quan, Lộc Mã Quý Nhân, Âm Dương làm gốc để khởi lệ.
Tầng 15: Là Thấu Địa Quái, lấy Thấu Địa
làm nội quái, gọi là quẻ Liên Sơn. Nhà Hạ dùng Nhân Thông, nên Kinh Dịch lấy
quẻ Cấn làm đầu, quẻ phối thì lấy Hỗn Thiên Ngũ Hành, phối hợp với quẻ Tử Phụ,
Tài Quan, Lộc Mã Quý Nhân là Tứ Cát ( 4 cái tốt ) của Sa, Thuỷ làm đắc dụng.
Tầng 16: là Thấu Địa 60 Long phối hợp
với 28 ngôi sao, ngũ thân ( 5 cái gần ) Sa, Thủy, Cầm Tinh, để quản cục trì thế
, một cách tự nhiên mà dùng.
Tầng 17: Định phương vị của Tứ Cát là :
Ngũ Thân , Tam Kỳ , Bát Môn , Cửu Tinh đáo Sơn.
Tầng 18 : Là Phùng Châm Thiên
Bàn để biến Thủy Lai và Khứ. Đây là quẻ phiên của Dương Công, gồm có có 9 sao
là Thiên Phụ Quái, phiên: Bật, Phụ, Vũ , Phá , Liêm , Tham, Cự, Lộc, Văn làm
Cát, Hung thần, để đoán phúc họa do ở luật Tịnh Âm, Tịnh Dương mà ra.
Tầng 19 : Là 240 phân số , do Lạc
Thư chia ra 16 cái , 15 số dọc , ngang thành 240 phân số , chia cho 24 sơn ,
mỗi sơn 10 số. Đây là nguồn gốc của phân kim.
Tầng 20 : tầng Địa bàn phân kim ,
gia giảm 2 phân , 8 phân ( 2/8 ) : giảm Sa , Thủy , Minh Đường không ngay ,
Khắc Mệnh , Khắc Long , vì vậy mới có sự gia giảm bên 3 phân , bên 7 phân ( 3/7
).
Tầng 21: là tầng Thiên bàn phân kim ,
gia , giảm tam , thất ( 3/7 ). Mỗi Sơn có 5 chữ phân kim , như Tý Sơn thì có :
Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý, thì Giáp Ất là Cô; Nhâm Quý là Hư;
Mậu Kỷ là Sát; Bính Đinh là Vượng; Canh Tân là Tướng; để tránh sự gác giây, sai
lầm vào Không Vong...vv..thì tai hại lắm!
Tầng
22: là phân biệt khoảng Vượng, Tướng, Cô, Hư. Lấy Bính, Đinh, Canh, Tân, chỉ
vào khuyên chữ đỏ là Vượng Tướng. Mậu Kỷ chỉ chữ Thoa ( X ) là Sát Diệu. Giáp,
Ất, Nhâm, Quý chỉ điểm đen là Cô, Hư, Không, Vong.
Tầng 23 : là phân kim phối với Địa
Nguyên, thuộc quẻ Ly tàng, là quẻ ở ngoài. Nhà Ân dùng Địa thống, nên Kinh Dịch
lấy quẻ Khôn làm đầu. 60 quẻ phối với 60 phân kim, lấy quẻ Kim lưỡng toàn làm
Vượng, Tướng, gọi là Đắc Kim. Ngoại trừ 4 quẻ Khảm, Ly, Chấn, Đoài, là quẻ Tiên
Thiên chính thức ứng với 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông, mỗi mùa giữ 1 quẻ, mỗi quẻ 6
hào, mỗi hào gồm 15 ngày (4x6=24), 24 hào gồm 24 tiết khí, ngoài 60 quẻ, mỗi
tháng 5 quẻ, mỗi quẻ 6 ngày (6x60=360), nên mỗi năm có 360 ngày.
Tầng 24: là Nạp Âm Ngũ Hành, 60 Giáp Tý,
Thiên Can, Địa Chi phối hợp, do Tiên Thiên Bát Quái lấy Nạp Giáp phối. Ngoại
trừ quẻ Kiền và quẻ Khôn là Đại Phụ Mẫu không kể, nếu Thiên Can gặp Tý, Ngọ,
Sửu, Mùi tại Chấn, Tốn, sẽ do 2 quẻ suy luận; Thiên Can gặp Dần, Mẹo, Thân, Dậu
tại Khảm, Ly sẽ do 2 quẻ suy luận; Thiên Can gặp Tuất, Hợi, Thìn, Tị tại Cấn,
Đoài sẽ do 2 quẻ suy luận; Theo phương pháp Dụng, lấy 9 Mộc, 7 Kim, 5 Thủy, 3
Hỏa, 1 Thổ. Đặt tại cửa đầu kim, phải biết ý nghĩa sâu xa.
Tầng 25: là phương vị của 12 cung, nếu
được Tinh phong đẹp đẽ , Sa -Thủy trong sáng, được chứng ứng ở phương nào, thì
cung ấy phát quý , hưởng lộc.
Tầng 26: là vị trí của 28 ngôi sao, ngôi
nào đóng ở độ số nào, thì ứng với tỉnh, châu, thành, huyện ở cung ấy (ở dưới
đất).
Tầng 27: là 24 khí tiết của hàng tháng
đón Thái Dương đến cung, tránh Hung sát, tìm Tốt lành: tức là cung Trục Nguyệt,
lấy 4 cái Đại Cát Thời làm Thần Tàng sát để Tạo, Táng, thì được Thượng Cát (tốt
trên hết).
Tầng 28: là vị trí của 12 Tướng Đăng
Minh, đón Thái Dương đến cung, nửa tháng tới 1 Sơn mỗi tháng qua 1 cung, đi
ngược lại 24 sơn, tức là cung Đăng Minh.
Tầng 29: là 12 vị tinh thể Nghinh Thái
Dương đáo cung triều xá, mỗi tháng giửa kỳ khí tiết, để rước Quý Nhân lên Thiên
môn.
Tầng 30: là cung xá quán dịc , tức Thần
Thái Dương. Đem văn, võ bá quan đến chỗ chân thủ, mỗi tháng cùng Thái Dương qua
1 cung, Tạo Táng gặp ở cung này rất tốt, mọi cái sát tiềm tàng hết.
Tầng 31: là 24 ngôi Thiên Tinh chiếu vào
cục đất, chia ra Tam Cát, Lục Tú, Cửu Tinh; Sa, Thủy Thôi Quan, phát phúc. Nếu
được Sơn quý tất xuất Đại Cát Quý. Tiên Thánh nói: Long lấy xung hòa làm đẹp ;
Tinh lấy được phối làm tốt, chính chỗ này vậy.
Tầng 32: là Hỗn Thiên Ngũ Hành tinh độ,
tại 28 vì sao, chia làm Thất Chính (7 vị Chủ tinh) đều có định, sở, thuộc 1
sao; cũng có ngũ hành ở trên: Kim 12, Mộc 13, Thủy 12, Hỏa 12, Thổ 12, cộng có
61 vị. Duy có cung Cấn là nhiều thêm chữ Mộc. Đây là Ngũ Tinh Đăng Viên (5 sao
đến cục), Ngũ hành cùng với Xuyên sơn, Thấu địa, Phân kim, sự Cát, Hung cùng là
cái ở trong, cái ở ngoài, lại hợp với 72 khí tiết , 365 độ trong 1 năm.
Tầng 33: là chia đều 60 Long , tham hợp
với 61 Hỗn Thiên ( tức Hỗn Thiên Ngũ Hành ) , mỗi chữ 1 Long, mỗi chữ quản 6
ngày , thành ra 365 ngày 3 giờ , để ứng với 72 thời tiết của độ số trong 1 năm.
Địa bàn căn cứ vào đó căng giây , Phân kim , Thấu địa , Toa huyệt mà dùng. Trong
sách Ngỏa Vương hợp tượng cát thư , còn có 24 sơn Thấu Địa Long , thừa khí nhập
huyệt.
Tầng 34: là ngang , dọc độ số của 28 sao
, hợp với Nhân bàn có 365 vạch. Trong giới hạn độ số của mỗi sao, chia ra
Thượng quan, Trung quan, Hạ quan (quan là cửa) để dùng làm cung vị Tiêu sa , là
phép của Ai tinh.
Tầng 35: là định sự Sai thác và Không
vong, có điểm đỏ, chấm đen để gát dây Phân kim, cùng với Xuyên sơn, Thấu địa
làm cái ở trong, cái ở ngoài liên quan nhau. Khi giăng dây Phân kim phải đặt
trên điểm đỏ, không được đặt vào điểm đen, nếu lọt vào khoảng của chấm đen một
nửa sợi tơ tóc là hỏng.
Tầng 36: là 28 sao phối hợp với 24 sơn,
và Trung châm Tiêu sa của Nhân bàn, gọi là phép Ai tinh. Lấy sao của sơn Tọa
Huyệt làm chủ; lấy sao ở đằng trước làm Hướng ; và tả , hữu làm Khách.
Huyệt trường là Ngôi Bắc Thần (sao Chính chủ), Sa, Thủy là Nhị Thập Bát Tú (sao
phụ tá). Cũng như sao Bắc Đẩu có các sao
khác chầu vào. Vậy sách nho có câu "Thí như Bắc Thần cư kỳ sở, nhi chúng
Tinh củng chi" chính là bảo về nghĩa thế.
La Kinh 36 tầng được dùng trong Phong
thủy, hướng của các công trình kiến trúc, chọn hướng xây nhà cửa, hướng bếp,
hướng bàn thờ, hướng cửa, … và rất cần
thiết với người hoạt động trong lĩnh vực Bất Động sản, các Kiến trúc sư, các
Pháp sư Phong Thủy, các nhà nghiên cứu Phong thủy cao cấp. Mỗi gia đình cũng
nên có một chiếc La Kinh ngoài việc để trưng bày còn giúp ích cho việc xác định
phương hướng mỗi khi có việc cần ví dụ mua nhà, mua đất nên chọn mua hướng nào
theo tuổi của chủ nhà hoặc khi cần sửa chữa, bố trí trong nhà như (hướng cửa,
hướng bếp, hướng bàn thờ, hướng giường ngủ…) thậm chí cả việc xác định hướng mồ
mả sao cho tốt nhất…

LA
KINH
PHẦN
II
LA
KINH THẤU GIẢI
BÀI
TỰA VỀ LA KINH
XÉT VỀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO LA KINH :
Trước hết do vua Hiến Đế chế tạo ra, sau
ông Chu Công bắt chước và dùng kim chỉ nam,để định phương vị . Tuy nhiên ,
khi ấy chỉ có 12 địa chi . Đến ông Trương Lương nhà Hán , mới phối hợp với bát
can,(tám phương vị về thiên can) , và tứ duy( là 4 phương :kiền ,khôn ,cấn
,đoài vào khoảng giửa 12 chữ hàng chi và đặt tên là Địa bàn .Đến Dương Công và
Lại công hai vị thêm hai 2 tầng nữa ,gọi là Thiên bàn và Nhân bàn ,tất cả
gộp lại gọi là Thấu bàn tức Tam tài ).Trong đó tất cả hành độ của các tinh tú
đều được trình bày đầy đủ , diễn tả được những bí mật và ngũ hành của Hà Đồ,
Lạc Thư ; phơi bày những sự hiện, tàng ,kỳ diệu của các quẻ .Đến vua Phục Hy và
Văn Vương , những cái kỳ diệu của các quẻ ,biết được tinh vi và thể ,dụng rộng
rãi , biến hoá vô cùng ! Bao la vậy thay ! Gồm hết thảy muôn ngàn hiện tượng cả
dọc ngang trên trời đất . Trên có thể hiểu thấu được hành độ của các vì sao
luân chuyển ;dưới có thể phân biệt được núi, sông , phương hướng tốt xấu ;giửa
có thể định được Dương cơ ,Âm phần cho mọi người , về sự phúc hoạ v. v. .dùng
làm được muôn việc, thật là quý báu vô cùng !
Từ đời Hán , Tấn , Đường , Tống đến nay
, nhiều bậc danh nhân , hiền sĩ nổi tiếng , ngoài 4 vị họ Dương , Tăng , Liêu ,
Lại ra , cũng không thiếu gì những người làm việc phúc đức để giúp ích cho
những người nghèo , rất là linh nghiệm
Xét về cách trước thư lập ngôn của các
vị này , ta thấy căn cứ vào các Tinh thể , Sơn loan , nhưng thực dụng lại phải
căn cứ vào La Kinh . Những nhà Địa lý sau này , giảng về Loan Đầu , chọn hình
tượng , đặt cách đo hoạch , chia ra nhiều môn , nhiều kiểu , đua nhau ra đời .
Tuy nhiên giảng về La Kinh mà không biết yếu điểm của Địa lý : là "lấy
Loan Đầu làm Thể , La Kinh làm Dụng " là chưa rõ nghĩa của La Kinh , mà
làm sai 1 ly thì sai đi 1 dặm . Nếu La Kinh không rành thì không thể căn cứ vào
đâu để phân biệt Long , Huyệt , Sa , Thủy ; thật , giả , tốt , xấu . Như vậy ,
dẫu có được Loan Đầu thích hợp , cũng luôn luôn lâqnx lộn vị trí giửa tốt và
xấu ,khiến cho nước hung , khí sát xung vào hài cốt , làm cho hao người tán của
, sự tai hại là vô cùng không thể tránh thoát . Ngưới đời thường nói : Thầy Địa
lý không rành làm tai hại cả toàn gia tông tộc ! Lời ngạn ngữ ấy rất đáng tin .
Tôi đã học tập nhiều năm về Địa lý , hiểu biết khá rộng về sự tốt xấu của các
Tinh , Loan , thế mà , khi chọn lựa Tinh đẩu vẫn còn sợ chưa hiểu thấu rành rẽ
về La Kinh , rất khó quyết định được họa , phúc . Sau đó tôi tìm tòi các sách
cổ , kim và tìm thầy học đạo , đem hết tâm trí đẻ nghiên cứu La Kinh , lặn lội
đi khắp mọi nơi , thăm những ngôi mộ danh tiếng để khảo nghiệm về họa phúc ,
không 1 chút điểm sai lầm . Như vậy mới hiểu rằng 3 yếu tố quan trọng của Địa
lý : trong có thể tự hỏi mình , ngoài có thể chất vấn người khác , và khi chọn
1 ngôi mộ cho ai phải làm sao chọn được chỗ tốt , tránh được nơi xấu , không
xảy ra sự suy bại tai hại cho người . Bởi vì khoa Địa lý rất là tinh vi , nào
là Xuyên Sơn Thấu Địa , Tiêu Sa , Nạp Thủy , Phân Kim , Tọa Độ , tầng thứ rất
phiền phức , lý luận rất sâu xa . Có khi nhiều tầng chia ra để dùng , có khi 2
tầng kiêm dụng chung cả , có khi 1 tầng dùng cho 2 việc , có khi nhiều tầng hợp
lại mà thông dụng , đó là những biến hóa vô cùng huyền diệu , ta phải có linh
cảm để mà hiểu thấu chi ly , nếu sai 1 chút , sẽ bị ảnh hưởng rất lớn . Nay tôi
căn cứ vào La Kinh gồm có 36 tầng của người xưa , viết thành sách để phổ biến
ra 4 phương , cho mọi người đời sau cùng biết , có thể căn cứ vào các đồ án để
chọn Loan Đầu , cho tận thiện , tận mỹ , để việc tạo phước khỏi bị sai nhầm .
Bài tựa này làm tại : Thái Nguyên Tứ hợp
đường âm dương học - Vương Đạo Hanh viết ở Phượng Sơn thư trai - Mùa thu năm Quý Mùi , thời vua Đạo Quang thứ
3 .
BÀI TỰA II
Ngày xưa bậc Thánh nhân làm ra Kinh Dịch
, ngẩng lên có thể xem Thiên Văn , cúi xuống có thể xét Địa Lý . Người ta còn
nói : cái Đạo dựng lên Trời là Âm Dương , cái Đạo dựng lên Đất là Cương Nhu (
cứng mềm ) , đó là nguyên nhân của thuyết Địa Lý . Vậy trong Kinh Thi nói :
Quan sát về Âm Dương , nhìn xem dòng suối chảy lại càng rõ rệt nghĩa lý hơn nữa
.
Từ đời nhà Tần , nhà Hán tới nay , không
thiếu những người tinh rành về Địa Lý : Quách Cảnh Thuần đời Tấn , Dương Quân
Tùng đời Đường , thông hiểu thấu đáo lẽ huyền diệu của Địa Lý , hiếm có trên
đời .
Gần đây đa số các nhà nho không nghiên cứu về Địa Lý , thường chôn hài cốt của
thân nhân vào nơi không Long , không Huyệt , Thủy tán , Sa phi , khiến cho nước
ngấm , kiến mối phá hoại , làm cho tuyệt tự hậu nhân , thật là đáng thương !
Người đời thường nói : Muốn thành người hay , nên biết làm thuốc và địa lý .
Lại có chỗ nói : nếu núi sông mà biết nói thì mặt thầy địa lý sẽ xám như đất
chết , phủ tạng của con người mà biết bảo thì thầy thuốc không có chỗ hành nghề
! Như thế nói rõ là Địa Lý rất khó , còn quan trọng hơn làm thuốc ! Cho nên học
thấp kém mà ra làm thầy , lừa dối người không biết , thì mang tội vào người
không ít !
Đời Tống có hai nhà nho là ông Chu , ông
Thái , tinh thông về khoa Địa Lý , có viết những cuốn sách bất hủ truyền cho
đời sau . Tại sao người ta không kiếm những sách ấy mà coi ?
Vì vậy , khoa Địa Lý ngoài 4 ông Dương ,
Tăng , Liêu , Lại , ít có người tinh thông .
Tóm lại , về Địa Lý chỉ có Loan Đầu và
Thiên Tinh mà thôi ! Loan Đầu tức là Hình Thể , Thiên Tinh tức là Lý Khí . Hai
yếu tố quan trọng như nhau . Hình Thể ở trong Trời Đất , khiến cho người ta có
thể nhìn ngang , nhìn dọc , trông xa , trông gần ; người tinh mắt có thể quan
sát dễ dàng . Những cuốn sách như : Trầm Tân Chu Địa Học , Toàn Phong Nguyên
Bản , Sơn Dương Chỉ Nê , Kham Dư , Nhất Quán ...vv...đã nói rõ ràng và đầy đủ .
Còn về Lý Khí thì chắc chắn phải nghiên
cứu La Kinh , tìm hiểu sâu xa về Nhị Khí , Ngũ hành , mặc khải được những huyền
bí của Hà Đồ , Lạc Thư . Rộng ra thì có 36 tầng , hẹp lại thì có 15 tầng , rất
quảng đại , rất tinh vi . Nếu không có người chỉ dẫn , giảng dạy , thì không có
thể căn cứ vào đâu để ý thức được sự huyền diệu . Có người nói rằng : Hình Thể
không đẹp , dầu Lý Khí có hợp cục cũng không dùng được ! Lời đó cũng đúng .
Nhưng Hình Thể tốt , mà Lý Khí không hợp , thì đất tốt nhưng cách táng xấu cũng
không phát phúc được . Phương chi đại địa rất ít , không phải người có đại đức
thì không thể được . Còn những núi đồi tầm thường , thì dẫu có Lý Khí không hợp
lắm , mà muốn cho con cháu nối truyền , no cơm , lành áo , bình an , cũng phải
dùng La Kinh để tìm Địa Lý cho khỏi phạm sát thì mới được . Vì vậy người làm
Địa Lý phải tận tâm phân tách tỉ mỉ để phân tim tốt , tránh xấu . Ông Định Ấp
Vương Đạo An khi còn nhỏ học nho , lớn lên học Địa Lý , ngấm ngẫm nhiều năm ,
thường chê người đời chỉ giảng Hình Thể mà không tìm học Lý Khí , nên đã gây
tai hại vô cùng ! Vậy sau khi đọc hết các sách nghiên cứu , các ngôi mộ có danh
tiếng , tìm hiểu về nguồn gốc của phúc , họa , thực nghiệm nguyên nhân của sự
giàu nghèo , ông viết ra cuốn La Kinh Thấu Giải này , và nhờ tôi viết bài tựa ,
khi đó tôi làm Tri Huyện ở Mậu Châu , nhân có kỳ thi tại tỉnh đọc sách của ông
, mới biết là ông lưu tâm giúp đời để mọi người an táng cho thân nhân mình ,
được hài cốt yên lành , gầy hạnh phúc cho con cháu đời đời thịnh vượng . Còn
việc tìm đất thì cần phải hợp với thiên lý , . Người có Đức lớn , thì gặp được
đất lớn , đó là tất nhiên , không còn ngờ vực gì nữa . Người đời đừng cho là
lời bàn tầm thường của các ông già quê mùa , mà không chịu lưu ý đến những lời
chỉ dẫn quan trọng về âm chất thẩm , thiên của cổ nhân
.Bài
tựa này làm tại Mậu Châu , viết vào hạ tuần tháng 5 , năm Quý Mùi , niên hiệu
Đạo Quang thứ 3 - Học Chính Nhiếp Nguyên Chương soạn
VƯƠNG THỊ LA KINH THẤU GIẢI
TÂN ĐÍNH QUYỂN ĐẦU
Biên soạn : Thục Đồng Âm dương học , Vương Đạo Hanh
Hiệu chính: Định Ấp Nho trí Vương Thiệu
Chí
Tham duyệt: học trò là: Lý Duy Tân,Chu
Quốc Hồng,Đặng Quan Vũ,Trần Vạn Bằng.
Long mạch chia làm 24 vị khí , thuộc về Ngũ Hành , Âm Dương mất hay còn mặc dầu
, căn cứ vào Hướng , Long , Huyệt , Sa , Thủy , nhưng then chốt của họa phúc
đều căn cứ ở trong một cái huyệt. Chính giửa huyệt mà chiếu đủ Tiêu Sa , Nạp
Thủy và Thừa Khí , cần phải rành rẽ cách phân châm , để thực hiện 3 điều trọng
yếu :
Khi xét về Long , phải coi kỹ chỗ Xuất
mạch
Coi về Huyệt , phải nhận kỹ chỗ Động
khí.
Coi về Thủy lai , phải coi kỹ chỗ Thủy
triều lại ; ở trước mặt Huyệt coi Thủy khứ , phải coi kỹ chỗ cửa miệng nước
chảy ra đi. Coi về thủy phải coi về sự hợp cục và phá cục. Coi về Long lai thì
phải coi chỗ Long Nhập Huyệt ( hoặc là phía sau ). Coi về Hướng thì phải coi ở
đằng trước. Coi Thủy lai thì phải coi ở chỗ nước chảy tới tới ( Minh Đường).
Coi Thủy khứ thì phải coi chỗ nước chảy đi ra ( Ngoại Minh Đường)
Nếu không rõ hình thế mà đặt La Kinh cẩu
thả , bậy bạ , thì tai hại vô cùng ! Người đời xưa nay đều nói : Thầy thuốc lầm
chỉ hại 1 mạng người , thầy địa lý lầm làm hại cả dòng họ người ta !
Bởi vì , chỉ có Tuyệt Hướng mà không có
Tuyệt Long , tức là không sai về Sa , Thủy , mà chỉ bị về Lập Hướng sai vào
phương Khắc Sát , mà bị Tuyệt thôi ! Xin các Thầy Địa Lý trong thiên hạ , nên
lưu ý để cho những người hiếu tử , hiếu tôn được nhờ ơn Thầy , được ngôi mộ của
Tiền nhân an lành , phát phúc cho cháu chắt đời sau , thì không phúc gì bằng !
Những sách tham khảo:
Thanh triều khâm định hiệp kỷ : để phân biệt Ngũ Hành , bàn về các sao và ngày
tháng.
Duyên đàn tử : Phân biệt Sa , Thủy và
phân chia cung vị.
Lưu thị gia tàng : Nói về ngày tháng.
Nhất quán kham dư : Nói về tinh thể và
La Kinh.
Tứ đàn tử : Nói về các Tinh thể và Thủy
pháp.
Tượng cát : Nói về năm tháng.
Chính kỷ nhất thống : Nói về Xuyên sơn
thấu địa.
Thiên cơ hội nguyên : Nói về Tinh thể
địa bàn.
Ngao đẩu : Nói về năm tháng và quái lệ (
các quẻ )
Đính hỗn châm : Nói về Ngũ hành , Thiên
Văn , Địa lý.
Bình địa ngũ tinh : Nói về Dương Trạch.
Nguyên chân : Nói về Thủy khẩu và Tam
hợp.
Địa lý bất cầu nhân : Nói về Tinh thể
địa bàn.
Thanh lang kinh : Nói về Quái lệ ( các quẻ
).
Tào an phong : Nói về Tinh thể ( hình
dạng sơn sa )
Tuyết tâm phú : Nói về Tinh thể.
Ngọc tủy kinh : Nói về Tinh thể
Sơn dương chỉ mê : Nói về Tinh thể.
Ngũ chủng bí khiếu : Nói về các quẻ và
Địa bàn.
Sùng Chính tịch mậu : Nói về năm tháng
và Ngũ Hành.
trần tân chu : Nói về Tinh thể.
Địa lý thống nhất toàn thư : Nói về Tinh
thể.
Trần tử tánh : Nói về năm tháng ngày
giờ.
Ngọc xích kinh : Nói về Thiên văn và Địa
lý
Địa lý đại thành.
Cần phải đọc sách của các bậc danh sư ,
trong đó có nhiều điều chỉ dạy huyền bí.
MỤC LỤC CÁC TẦNG CỦA LA KINH
Tầng 1 : Là Tiên Thiên bát Quái biến thành Hậu Thiên Bát Quái. Tiên
Thiên làm cái bản thể , Hậu Thiên làm cái sử dụng. Dùng Hậu Thiên không được
phá Tiên Thiên , chỉ dùng Hậu Thiên chứ không dùng Tiên Thiên , nhưng vẫn có
Tiên Thiên ở bên trong.
Tầng 2 : Lạc Thư biến thành
Tứ Tượng. Hóa Hậu Thiên thành Cửu Tinh ( 9 sao ) , chia Lục Giáp thành 120 phân
kim , ngang dọc 16 cái và 5 số.
Tầng 3 : Bát Quái Hoàng
Tuyền , tức là Quan và Quỹ của Tiên Thiên Bát Quái , hòa hợp với Ngũ hành để sử
dụng trong việc : Long thời kỵ Thủy lai , Lập Hướng thì kỵ khắc Long.
Tầng 4 : Là tứ lộ và Bát lộ
Hoàng Tuyền bạch Hổ ( tức sao sát ) của Địa Chi , quay đi trở lại. Hướng về Bát
can thì kỵ Tứ duy Thủy lai , Hướng Tứ duy thì kỵ bát can Thủy lai ; nghĩa là 4
phương Hoàng Tuyền , 8 phương Khắc Sát ,l nước chảy đi thì tốt , nước chảy lại
thì xấu. Nếu phạm thì hao người tốn của.
Tầng 5 : Cửu tinh ứng vào cục đất để phân biệt Long tốt xấu ,
coi sắc đất biến đổi mà tìm Huyệt , tương ứng với thứ vị của 24 vì Thiên tinh
mà lấy dùng.
Tầng 6 : Kim chính thức của
Địa bàn dùng để xem Long lai , định hướng , thừa khí nhập Huyệt ; Lập Trạch ,
An Phần chọn âm dương. Tóm lại , cả 36 tầng đều căn cứ ở tầng này vận chuyển mà
sử dụng.
Tầng 7 : Âm và Dương Long của Tiên Thiên Bát Quái , Kiền Nam , Khôn
Bắc , Ly Đông , Khảm Tây , ở 4 phương chính là Dương ; Chấn , Tốn , Cấn , Đoài
ở 4 phương góc tức là Tứ Duy của Tiên Thiên là Âm. Mỗi quái Nạp Âm đều có Can
và Chi là nửa Âm , nửa Dương. Phép biến Thủy không được sai lầm về Âm Dương.
Tầng 8 : Chính Ngũ
Hành , tóm hết thảy cả trong địa bàn , nguồn gốc là do Hà Đồ mà ra , phân Đông
Tây Nam Bắc , 24 sơn và sự tương khắc của Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ để sử
dụng.
Tầng 9 : Là Kiếp sát , lấy Tọa Sơn làm chủ , chỉ kỵ 1
sơn xấu , hoặc nghiêng ngã , vỡ lỡ thôi , còn tốt thì không kỵ.
Tầng 10 : Là 72 Long
Xuyên Sơn , ở trong Địa Bàn ghi 60 Giáp Tý , trong 5 cung Tý có 12 chữ chính
màu đỏ là để chỉ 4 phương tứ duy và 8 phương bát can , thấu thành 72 Long , lấy
lẽ Long Nhập Thủ thừa tiếp với thấu địa khí 1 mạch rót suốt vào Huyệt , và để
phù hợp với 72 thời tiết mỗi năm.
Tầng 11 : Xuyên Sơn làm quẻ gốc , sách Chu Dịch gọi là Thiên Thông.
Trong Kinh Dịch lấy quẻ Kiền làm đầu , nói : Thiên Địa biến hóa ra quái , hào
để bổ trợ cho Lai Long ; Tọa Huyệt là chủ của Thể , Dụng.
Tầng 12 : Là Trung Châm thuộc về Nhân Bàn , tham hợp với Thiên-Địa
2 bàn , là Thiên-Địa-Nhân tam tài. Ông Lại Công lấy để Tiêu Sa và tham hợp với
Ai Thiên Tinh và Nhị Thập Bát Tú , để làm biểu lý , bàn về Thái Dương đáo Sơn ,
và 12 vị Tiến Xá Tinh ; và đến 12 cung phân ranh giới 24 vị Thiên Tinh , Thấu
Địa Kỳ Môn , tất cả đều do tầng Trung bàn này thông dụng.
Tầng 13 : Là 60 Long Thấu
Địa. gọi là Thiên Kỷ , ở phía sau ngôi mộ hay là ngôi nhà khoảng 8 thước chỗ
Loan Đầu phân khí dẫn suốt tới. Có các chữ Vượng , Tướng , Châu Bảo , sát Diệu
, Hỏa Khanh , Cô Hư , Sai Thác và Không Vong , để phân biệt lấy quẻ xung hòa
9x6= 54 là Vượng Tướng , không xung hòa là Không Vong.
Tầng 14 : Là Thấu Địa Kỳ Môn
, người ta lấy 2 quẻ độn Tử Phụ, Tài Quan , Lộc Mã Quý Nhân , Âm Dương làm gốc
để khởi lệ.
Tầng
15 : Là Thấu Địa Quái , lấy Thấu Địa làm nội quái , gọi là quẻ Liên
Sơn. Nhà Hạ dùng Nhân Thông , nên Kinh Dịch lấy quẻ Cấn làm đầu , quẻ phối thì
lấy Hỗn Thiên Ngũ Hành , phối hợp với quẻ Tử Phụ , Tài Quan , Lộc Mã Quý Nhân
là Tứ Cát ( 4 cái tốt ) của Sa , Thuỷ làm đắc dụng.
Tầng 16 : là Thấu Địa 60 Long phối hợp với 28 ngôi sao , ngũ thân (
5 cái gần ) Sa , Thủy , Cầm Tinh, để quản cục trì thế , một cách tự nhiên mà
dùng.
Tầng 17 : Định phương vị của
Tứ Cát là : Ngũ Thân , Tam Kỳ , Bát Môn , Cửu Tinh đáo Sơn.
Tầng 18 : Là Phùng Châm Thiên Bàn để biến Thủy Lai và Khứ. Đây là quẻ
phiên của Dương Công , gồm có có 9 sao là Thiên Phụ Quái , phiên : Bật , Phụ ,
Vũ , Phá , Liêm , Tham , Cự , Lộc , Văn làm Cát , Hung thần , để đoán phúc họa
do ở luật Tịnh Âm , Tịnh Dương mà ra.
Tầng 19 : Là 240 phân số , do Lạc
Thư chia ra 16 cái , 15 số dọc , ngang thành 240 phân số , chia cho 24 sơn ,
mỗi sơn 10 số. Đây là nguồn gốc của phân kim.
Tầng 20 : tầng Địa bàn phân kim ,
gia giảm 2 phân , 8 phân ( 2/8 ) : giảm Sa , Thủy , Minh Đường không ngay ,
Khắc Mệnh , Khắc Long , vì vậy mới có sự gia giảm bên 3 phân , bên 7 phân ( 3/7
).
Tầng 21 : là tầng Thiên bàn phân
kim , gia , giảm tam , thất ( 3/7 ). Mỗi Sơn có 5 chữ phân kim , như Tý Sơn thì
có : Giáp Tý , Bính Tý , Mậu Tý , Canh Tý , Nhâm Tý , thì Giáp Ất là Cô ; Nhâm
Quý là Hư ; Mậu Kỷ là Sát ; Bính Đinh là Vượng ; Canh Tân là Tướng ; để tránh
sự gác giây , sai lầm vào Không Vong...vv..thì tai hại lắm !
Tầng 22 : là phân biệt khoảng
Vượng , Tướng , Cô , Hư. Lấy Bính , Đinh , Canh , Tân , chỉ vào khuyên chữ đỏ
là Vượng Tướng. Mậu Kỷ chỉ chữ Thoa ( X ) là Sát Diệu. Giáp , Ất , Nhâm , Quý
chỉ điểm đen là Cô , Hư , Không , Vong.
Tầng 23 : là phân kim phối với Địa
Nguyên , thuộc quẻ Ly tàng , là quẻ ở ngoài. Nhà Ân dùng Địa thống , nên Kinh
Dịch lấy quẻ Khôn làm đầu. 60 quẻ phối với 60 phân kim , lấy quẻ Kim lưỡng toàn
làm Vượng , Tướng , gọi là Đắc Kim. Ngoại trừ 4 quẻ Khảm , Ly , Chấn , Đoài ,
là quẻ Tiên Thiên chính thức ứng với 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông , mỗi mùa giữ 1 quẻ
, mỗi quẻ 6 hào , mỗi hào gồm 15 ngày ( 4x6=24 ) , 24 hào gồm 24 tiết khí ,
ngoài 60 quẻ , mỗi tháng 5 quẻ , mỗi quẻ 6 ngày ( 6x60=360 ) , nên mỗi năm có
360 ngày.
Tầng 24 : là Nạp Âm Ngũ Hành , 60
Giáp Tý , Thiên Can , Địa Chi phối hợp , do Tiên Thiên Bát Quái lấy Nạp Giáp
phối. Ngoại trừ quẻ Kiền và quẻ Khôn là Đại Phụ Mẫu không kể , nếu Thiên Can
gặp Tý , Ngọ , Sửu , Mùi tại Chấn , Tốn , sẽ do 2 quẻ suy luận ; Thiên Can gặp
Dần , Mẹo , Thân , Dậu tại Khảm , Ly sẽ do 2 quẻ suy luận ; Thiên Can gặp Tuất
, Hợi , Thìn , Tị tại Cấn , Đoài sẽ do 2 quẻ suy luận ; Theo phương pháp Dụng ,
lấy 9 Mộc , 7 Kim , 5 Thủy , 3 Hỏa , 1 Thổ. Đặt tại cửa đầu kim , phải biết ý
nghĩa sâu xa.
Tầng
25 : là phương vị của 12 cung , nếu được Tinh phong đẹp đẽ , Sa
-Thủy trong sáng , được chứng ứng ở phương nào , thì cung ấy phát quý , hưởng
lộc.
Tầng 26 : là vị trí của 28
ngôi sao , ngôi nào đóng ở độ số nào , thì ứng với tỉnh , châu , thành , huyện
ở cung ấy ( ở dưới đất ).
Tầng 27 : là 24 khí tiết của
hàng tháng đón Thái Dương đến cung , tránh Hung sát , tìm Tốt lành : tức là
cung Trục Nguyệt , lấy 4 cái Đại Cát Thời làm Thần Tàng sát để Tạo , Táng , thì
được Thượng Cát ( tốt trên hết ).
Tầng 28 : là vị trí của 12
Tướng Đăng Minh , đón Thái Dương đến cung , nửa tháng tới 1 Sơn , mỗi tháng qua
1 cung , đi ngược lại 24 sơn , tức là cung Đăng Minh.
Tầng 29 : là 12 vị tinh
thể Nghinh Thái Dương đáo cung triều xá , mỗi tháng giửa kỳ khí tiết , để rước
Quý Nhân lên Thiên môn.
Tầng 30 : là cung xá quán
dịch , tức Thần Thái Dương. Đem văn , võ bá quan đến chỗ chân thủ , mỗi tháng
cùng Thái Dương qua 1 cung , Tạo Táng gặp ở cung này rất tốt, mọi cái sát tiềm
tàng hết.
Tầng 31 : là 24 ngôi Thiên Tinh chiếu vào cục đất , chia ra Tam Cát
, Lục Tú , Cửu Tinh ; Sa , Thủy Thôi Quan , phát phúc. Nếu được Sơn quý tất
xuất Đại Cát Quý. Tiên Thánh nói : Long lấy xung hòa làm đẹp ; Tinh lấy được
phối làm tốt , chính chỗ này vậy.
Tầng 32 : là Hỗn Thiên Ngũ
Hành tinh độ , tại 28 vì sao , chia làm Thất Chính ( 7 vị Chủ tinh ) đều có
định , sở , thuộc 1 sao ; cũng có ngũ hành ở trên : Kim 12 , Mộc 13 , Thủy 12 ,
Hỏa 12 , Thổ 12 , cộng có 61 vị. Duy có cung Cấn là nhiều thêm chữ Mộc. Đây là
Ngũ Tinh Đăng Viên ( 5 sao đến cục ) , Ngũ hành cùng với Xuyên sơn , Thấu địa ,
Phân kim , sự Cát , Hung cùng là cái ở trong , cái ở ngoài , lại hợp với 72 khí
tiết , 365 độ trong 1 năm.
Tầng 33 : là chia đều 60
Long , tham hợp với 61 Hỗn Thiên ( tức Hỗn Thiên Ngũ Hành ) , mỗi chữ 1 Long ,
mỗi chữ quản 6 ngày , thành ra 365 ngày 3 giờ , để ứng với 72 thời tiết của độ
số trong 1 năm. Địa bàn căn cứ vào đó căng giây , Phân kim , Thấu địa , Toa
huyệt mà dùng. Trong sách Ngỏa Vương hợp tượng cát thư , còn có 24 sơn Thấu Địa
Long , thừa khí nhập huyệt.
Tầng 34 : là ngang , dọc độ số của 28 sao , hợp với Nhân bàn có 365
vạch. Trong giới hạn độ số của mỗi sao , chia ra Thượng quan , Trung quan , Hạ
quan ( quan là cửa ) để dùng làm cung vị Tiêu sa , là phép của Ai tinh.
Tầng 35 : là định sự Sai
thác và Không vong , có điểm đỏ , chấm đen để gát dây Phân kim , cùng với Xuyên
sơn , Thấu địa làm cái ở trong , cái ở ngoài liên quan nhau. Khi giăng dây Phân
kim phải đặt trên điểm đỏ , không được đặt vào điểm đen , nếu lọt vào khoảng
của chấm đen một nửa sợi tơ tóc là hỏng.
Tầng 36 : là 28 sao phối hợp với 24 sơn , và Trung châm Tiêu sa của
Nhân bàn , gọi là phép Ai tinh. Lấy sao của sơn Tọa Huyệt làm chủ ; lấy
sao ở đằng trước làm Hướng ; và tả , hữu làm Khách. Huyệt trường là Ngôi
Bắc Thần ( sao Chính chủ ) , Sa , Thủy là Nhị Thập Bát Tú ( sao phụ tá ). Cũng
như sao Bắc Đẩu có các sao khác chầu vào. Vậy sách nho có câu " Thí như
Bắc Thần cư kỳ sở , nhi chúng Tinh củng chi " chính là bảo về nghĩa thế.
Trên đây là 36 tầng La Kinh , tôi tham
khảo các kinh sách của các vị Tiền Hiền , lập ra La Kinh toàn đồ và chỉ dẫn
phép sử dụng minh bạch. Phân phối phổ thông ra bốn phương trong thiên hạ , để
mọi người cùng biết sử dụng mà tìm lành , tránh dữ cho công việc tạo phúc khỏi
bị nghi hoặc và sai nhầm.
KHÂM ĐỊNH LA KINH THẤU GIẢI
QUYỂN
THƯỢNG.
Bàn về việc dùng La Kinh không khác gì : Đứng trên bờ suối, lượng bóng cây. đo
chiều sâu...
La Kinh đầu tiên là do Hiên Viên Hoàng Đế đi đánh Si Vưu bị lạc đường. Thượng
Đế sai bà Cửu Thiên Huyền Nữ hiện xuống , chỉ cho cách mà đặt ra phương hướng ,
mới phá tan được yêu thuật của Si Vưu. Phép dùng kim - chỉ - nam là có từ khi
đó, tuy nhiên, câu chuyện có vẻ hoang đường.
Có người nói do ở vua Thành Vương nhà Chu. Khi ấy nước Việt thường đến triều cống.
Khi về sứ giả quên đường cũ, sợ lạc lối, nên vua nhà Chu cho chế ra Chỉ-nam-xa
( xe có kim chỉ nam bắc ) để dẫn đường. Từ đó La Kinh mới dùng kim pháp để định
vị trí, quan sát khí thế để thừa khí vào huyệt mà đặt táng Âm phần.
Xét hành độ của các thiên tinh xung
hợp , lấy sinh, vượng khí , phân tích rõ rệt tính chất của Tiên Thiên , dùng
Hậu Thiên để xem Thủy lộ chảy đi , chảy lại ; xét kỹ càng về họa phúc do hào ly
ở nơi sai, đúng , làm cho Trời không đổi được mạng người. Vì vậy người trí thức
có tài năng , am hiểu về địa lý , thiên văn , thì có thể đoạt được thần công ,
cải được Thiên mệnh ! vậy đất có nhiều cái không hoàn toàn mỹ mãn , nên phải
thay đổi , thêm bớt ít nhiều để tránh sự hung , tìm cái lành. Vì vậy ý nghĩa
của Tam Tài là cần yếu phải xem ở La Kinh , mới rõ ràng được chí lý. Trên xem
được Thiên thời , dưới xét được Địa lợi , giửa có thể quyết định được nhân sự.
Ngoài ra không còn cái gì khác và phải đạo lý hơn cả.
Luận
Thái Cực Hóa Sinh:
1/. Thái Cực là Hoàng Đạo , Ngũ Hành thiên biến , vạn hóa là do ở đó.
2/. Tượng ( Lưỡng Nghi ) tức Âm và Dương
, là Kiền Khôn ( trời đất )
3/. Tam Tài ( là Trời , Đất , Người ).
4/. Tứ Tượng ( là Đông , Tây , Nam , Bắc ).
5/. Ngũ Hành ( là Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ ).
6/. Lục Giáp ( là mỗi 60 năm là 1 Nguyên , có Thượng Trung Hạ Nguyên
).
7/. Thất Chính ( là Nhật cầu , Nguyệt cầu và 5 vì Tinh tú ).
8/. Bát Quái ( là Kiền , Khảm , Cấn , Chấn , Tốn , Ly , Khôn , Đoài ).
9/. Cửu Cung ( là Tham , Cự , Lộc , Văn , Liêm , Vũ , Phá , Phụ , Bật ).
10/. Thành số ( theo ở Lạc Thư , thì 1 được thêm 9 thành 10 , gọi là Hợp Thập
).
KHẢO NGHIỆM LA KINH
( Khởi lệ, dụng pháp, đối chứng ).
La Kinh chế ra tập trung được tất cả mọi tinh hoa của Trời Đất. Nguyên bản
Thái Cực là tinh chất của Thiên Địa ngưng đọng lại , là căn bản của vạn vật.
Đặt tên là La Kinh , vì chữ La có nghĩa là " bao la vạn vật " ; Kinh
có nghĩa là kinh luận " Kinh Thiên Vĩ Địa , là trải khắp cả ngang Trời ,
dọc Đất ". Sở dĩ lập ra có qui cũ ( khuôn mẫu ) quyền cái , khinh trọng ,
thành ra vuông , tròn , chẳng cái gì mà không do cái Kim Châm ( kim vàng chỉ
nam , bắc ) và cái Thiên Trì ( vòng tròn ). Trước hết để định về Phong Thủy ,
giả sử cái La Kinh mà không có Thiên Trì , thì không quyết định được phương Tý
, Ngọ ; không phân biệt được Âm Dương ; không hoạch định được Bát Quái , Cửu
Cung ; Ngũ Hành lẫn lộn , không sử dụng được 2 đầu mối của Can Chi ;
không biết được Long , Hướng , Khí , Mạch hay dỡ thế nào , lấy gì mà làm căn
cứ ? Vậy nên phải có Kim Châm ở trong vòng Thiên Trì. Động thì Dương ,
Tĩnh thì Âm . Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng , phân ra Bát Quái ; định vị Cát Hung
, tự nhiên hóa hóa , sinh sinh , vô cùng vô hạn !
Nguyên bản của Trời Đất không phải là ở
đầu cực , mà ở 1 điểm chính giửa đỉnh châm làm tổ khí , và cũng là căn bản của
vạn vật , vạn hóa.
Phân xét : Ngoài Thiên Trì
ra thì La Kinh tức là Thái Cực , phải lấy giửa Tý , Ngọ mà phân làm Lưỡng Tượng
; Lưỡng Tượng hợp với Mẹo , Dậu làm Tứ Tượng ; Tứ Tượng hợp với Tứ Duy làm Bát
Quái ; Bát Quái định được rồi thì mọi phân vị đều được minh bạch quyền hành
phận sự. Tức là Thiên Đạo , Địa Đạo , Nhân Đạo đã thiết lập định hoạch tinh
tường.
Có bài thơ :
Hư, Nguy chi gian châm độ minh.
Nam phương Trương độ thượng tam thừa.
Khảm Ly chính vị , nhân nan thức.
Sai khước hào ly , đoán bất linh.
Nghĩa là : trong khoảng
sao Hư và sao Nguy đã phân rõ ranh giới ; phương Nam thuộc về độ phận của sao
Trương , trên có 3 vị liên tiếp ( Bính , Ngọ , Đinh ) ; Khảm và Ly là ngôi
chính khí , đời ít có người biết ! Nếu làm sai 1 li , thì đoán họa , phúc không
linh nghiệm.
TẦNG THỨ 1 : TIÊN THIÊN BÁT QUÁI
Tiên thiên bát
quái là do 2 vị thánh :Văn Phục Hy và Văn Vương chế tạo ra, phù hợp với đức độ
của trời đất và sự quang minh của nhật nguyệt thứ tự thời tiết của 4 mùa, cùng
sự cát hung của nhân gian, như là có linh ứng với quỷ thần.
Do thái cực chia
ra động và tĩnh để làm lưỡng tượng tức âm dương...Do ở trong dương tượng mà
sinh ra thái dương và thiếu âm. Do trong âm lượng mà sinh ra thái âm và thiếu
dương:tức lá tứ tượng. Do thái dương mà sinh ra Kiền - Đoài -2. Do thiếu âm mà
sinh ra Ly -3, Chấn -4, Do thiếu dương mà sinh ra Tốn-5, Khảm -6.Do thái âm mà
sinh ra Cấn -7, Khôn - 8 : là bát quái.Bát quái quyết định việc tốt xấu, tốt
xấu sinh ra tất cả mọi việc hay dở.
Nét vạch của
quái(tức quẻ) thì có chẳn,lẻ như là :quẻ Kiền thì tam liền (tức 3 gạch liền
).Khôn lục đoạn(nét đứt). Chấn ngưỡng bồn(tức hình cái chậu để ngửa). Cấn phúc
uyển (hình cái chén úp). Ly trung hư (hình rỗng giữa).Khảm trung mãn(liền ở
giữa). Đoài thượng khuyết (nét trên thiếu đứt đôi).Tốn hạ đoạn (nét dưới đứt
đôi )
sư huynh lập ra phần này để mong nhiều
người hiểu và dùng được La kinh, hiện sư huynh bận việc nên Nam Phong tiếp tay
với Tím, khi nào rảnh rổi sư huynh xem lại, cần hiệu đính hay chú thích thêm
thì sư huynh làm nhé.
TẦNG THỨ HAI: LẠC THƯ(tức hậu thiên bát quái)
Lạc thư là chữ số ghi trên lưng con rủa
ở sông Lạc, hiện lên thấy có: số 9 ở đầu, số 1 ở chân, số 3 bên tả, số 7 bên
hữu, số 2 và số 4 ở vai, số 6 và số 8 ở chân, số 5 ở trung cung. Đây là thần
quy phụ đế ở trên giữa sông Lạc. Lấy đó mà thành biến vô cùng, 1-Khảm-Thuỷ,
2-Khôn-Thổ, 3-Chấn-Mộc, 4-Tốn-Mộc, 5-Trung-Thổ, 6-Kiền-Kim, 7-Đoài-Kim,
8-Cấn-Thổ, 9-Ly-Hoả. Bát quái do đó lập thành. Phép làm lịch nhân đó mà có nhất
bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu
tử. Lấy hình tượng để hoá tứ tượng. Thái dương ở số 1, liền với số 9 nên thành
ra 4x9=36. Thái âm ở số 4 liền với số 6 nên thành ra 4x6=24, cộng lại 36+24=60
số, để thành 60 giáp tý. Thiếu dương ở số 3 mà liền với số 7 nên thành ra
4x7=28. Thiếu âm ở số 2 mà liền với số 8 nên thành ra 4x8=32, cộng lại
28+32=60, để thành 60 hoa giáp, hợp với 60 trước hoá ra 120, là nguồn gốc của
120 phân kim, còn về sự hoá ra số chẵn, lẻ, âm, dương thì số 1, 3, 5, 7, 9 là
số lẻ thuộc về dương; số 2, 4, 6, 8 là số chẵn thuộc âm. Kiền, Khôn, Khảm, Ly
là 4 quẻ thuộc dương. Chấn, Tốn, Cấn, Đoài là 4 quẻ thuộc âm. Theo hậu thiên 1
được 9 thành 10, tức hướng Tý, Ngọ(Khảm, Ly) 2 được 8 thành 10, tức hướng Khôn,
Cấn, 3 được 7 thành 10, tức hướng Chấn, Đoài(Mão, Dậu) 4 được 6 thành 10, tức
là hướng Kiền, Tốn là hậu thiên phu phụ đối đãi. Theo số của Lạc thư thì Khảm
1, Kiền 6, Cấn 8 cộng là 15 số ở phương Bắc; Tốn 4, Ly 9, Khôn 2 cộng là 15 số
ở phương Nam; Chấn 3, Tốn 4, Cấn 8 cộng là 15 số ở phương Đông; Đoài 7, Khôn 2,
Kiền 6 cộng là 15 số ở phương Tây; tổng cộng là 60 số để ứng với 60 long. Do ở
nguồn gốc đó mà ra; Tứ chính, tứ duy, trung ương cộng là 60 số, hợp cả 60 số
trước lại là 120 phân kim. Ngang 15, dọc 16 cái thành ra 240 phân, mỗi sơn 10
phân, lấy ứng 240 sơn, để dùng làm việc phân kim, biết số vượng, tướng, cô, hư,
sát diệu. Về Hà đồ thì 1 cùng tông với 6, nên Giáp và Kỷ hợp; 2 cùng đạo với 7
nên Ất và Canh hợp; 3 với 8 là bạn nên Bính với Tân hợp; 4 với 9 cùng hội nên
Đinh với Nhâm hợp; 5 với 10 cùng đường nên Mậu với Quý hợp. Như vậy ta thấy Hà
đồ Lạc thư vận dụng rất rộng rãi, hễ gặp hợp thì hoá, tất được 5 mà thành 10.
Cho nên giáp kỷ bắt đầu khởi từ Giáp Tý đến 5 vị gặp Mậu Thìn hoá thổ; Ất Canh
khởi Bính Tý tiến 5 vị gặp Canh Thìn thì hoá kim; Bính Tân khởi Mậu Tý tiến 5
vị gặp Nhâm Thìn thì hoá thuỷ; Đinh Nhâm khởi Canh Tý tiến 5 vị gặp Giáp Thìn
thì hoá mộc; Mậu Quý khởi Nhâm Tý tiến 5 vị gặp Bính Thìn thì hoá hoả. Đó là
tương hợp tương hoá, tương tòng, nguyên tắc của phép độn ngũ tý; gặp dần mà
sinh, gặp thìn mà biến là lẽ thường như: Giáp Kỷ khởi Giáp Tý, đến Dần là Bính
hoả mà sinh ra Mậu Thìn thổ. 4 cung sau cũng vậy theo đó sẽ suy ra.
Lạc thư 1 được 5 thành 6 nên Giáp với Kỷ
hợp; 2 được 5 thành 7 nên Ất với Canh hợp; 3 được 5 thành 8 nên Bính với Tân
hợp; 4 được 5 thành 9 nên Đinh với Nhâm hợp; 5 được 5 thành 10 nên Mậu với Quý
hợp. Theo Hà đồ 1-6 là Thuỷ, 2-7 là hoả, 3-8 là Mộc, 4-9 là Kim, 5-10 là Thổ.
Thiên 1, địa 2, thiên 3, địa 4, thiên 5, địa 6, thiên 7, địa 8, thiên 9, địa
10. Nói về thiên số thì giáp, bính, mậu, canh, nhâm là 5 vị dương can. Về địa
số thì ất, tân, đinh, kỷ, quý là 5 âm can. Theo số đại diễn thì thiên số có 25,
địa số có 30, cộng là 55 rất tinh vi và diệu dụng vô cùng.
TẦNG THỨ BA: BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN
Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu
Cấn Hổ, Ly Trư, vi sát diệu
Trach, mộ phùng chi, nhất khắc hưu
Trên đây là cái sát hàng đầu, rất kỵ cho
việc tạo táng. Người ta thường gọi là Bát sát, chỉ có 8 cái phương sát: Khảm
long kỵ Thìn và Tuất 2 thuỷ lại, Khôn long kỵ Mão thuỷ lại, Chấn long kỵ Thân
thuỷ lại, Tốn long kỵ Dậu thuỷ lại, Kiền long kỵ Ngọ thuỷ lại, Đoài long kỵ Tỵ
thuỷ lại, Cấn long kỵ Dần thuỷ lại, Ly long kỵ Hợi thuỷ lại, mỗi long chỉ có 1
sát.Còn về chọn ngày tạo mệnh thì ở năm, tháng, ngày, giờ kỵ dụng. Ví dụ như
Khảm sơ thì kỵ mậu thìn, mậu tuất, Khôn sơn kỵ ất mão, Chấn sơn kỵ canh thân,
Tốn sơn kỵ tân mậu, kiền sơn kỵ nhâm ngọ, Đoài sơn kỵ đinh tỵ, Cấn sơn kỵ bính
dần, Ly sơn kỵ kỷ hợi. Đó, đều do ở hào quan quỹ của hỗn thiên ngũ hành phạm
sát. Nếu tạo táng hay sửa chữa mộ ở phương đó cả hai việc; Trước hết đem thái
tuế của năm, vào trung cung, tiến theo chiều thuận phi luân chuyển; sau lấy
nguyệt kiến của tháng và ngày giờ phi ra 9 cung, như gặp quý tỵ, quý hợi của
năm tháng ngày giờ vào trung cung, thì mậu tuất, mậu thìn đến nhất bạch, không
nên sửa chữa ở phương khảm và tạo táng ở khảm sơn. Nếu gặp kỷ dậu niên, kỷ dậu
nguyệt, kỷ dậu nhật, kỷ dậu thời nhập trung cung, chuyển đến ất mão là nhị hắc
đáo khôn sơn thì có thể sửa hay là tạo táng ở khôn sơn được. Nếu như quý sửu
niên, hay nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến canh thân, tân dậu
đáo tam bạch, tứ lục thì không nên tu tạo ở 2 sơn chấn, tốn. Tân tỵ niên, nguyệt,
nhật, thời nhập trung cung, luân chuyển tới ngọ là lục bạch, đáo kiền thì không
nên tu tạo ở kiền sơn. Quý hợi niên, nguyệt, nhật, thời vào trung cung, luân
chuyển đến bính dần là bát bạch đáo cấn thì không nên tu tạo ở cấn sơn. Ất mão
niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến đinh tỵ là thất xích
đoài thì không nên tu tạo ở đoài sơn. Ất mùi niên, nguyệt, nhật, thời nhập
trung cung phi chuyển đến kỷ hợi là cửu tử đáo ly, thì không thể tu tạo ở ly
sơn được.Đó đều là bát sát quy cung, thì quyết định bách nhật nội, đại sinh
hung hoạ thật nên tránh, đó là 8 cung sát nên cẩn thận chơ phạm vào.
Bài ca về hỗn thiên ngũ hành:
Kiền Kim, Giáp Tý, ngoại Nhâm Ngọ
Khảm Thuỷ, Mậu Dần, ngoại Mậu Thân
Cấn Thổ, Bính Thìn, ngoại Bính Tuất
Chấn Mộc, Canh Tý, Canh Ngọ lân
Tốn Mộc, Tân Sửu ngoại Tân vị
Ly Hoả, Kỷ Mão, Kỷ Dậu tầm
Khôn Thổ, Ất Mùi gia Quý Sửu
Đoài Kim, Đinh Tỵ, Đinh Hợi bình
Nghĩa là Kiền thuộc kim thì kỵ giáp tý và nhâm ngọ 2 phương, 7 cung kia cũng
theo như thế mà suy nhận.Không kể chính sát hay bàng sát, chỉ kỵ ở chổ nạp
giáp. Canh, Thân, Tân, Dậu đồng phạm với Ất, Mão; Cấn, Dần đồng phạm Nhâm, Hợi.
Sơn và thuỷ đều có sát, sơn có sơn sát, thuỷ có thuỷ sát. Lập hướng gồm kỵ cả.
Cho nên thuỷ hai dòng chảy lại, nước bên hữu lại thì trưởng tử bại, nước bên tả
lại thì con thứ hai bại, nước chảy ngang trước mặt thì con thứ ba bại. Xem nước
ở trên mặt ruộng sẽ thấy.
Hướng kỵ:
Khảm long thì kỵ Thìn Tuất hướng
Cấn long thì lỵ Dần hướng
Chấn long thì kỵ Thân hướng
Tốn long thì kỵ Dậu hướng
Ly long thì kỵ Hợi hướng
Khôn long thì kỵ Mão hướng
Đoài long thì kỵ Tỵ hướng
Kiền long thì kỵ Ngọ hướng
Đây là hào quan quỷ về hỗn thiên ngũ
hành của tiên thiên bát quái.
TẦNG THỨ TƯ
TỨ LỘ VÀ BÁT LỘ HOÀNG TUYỀN
Bài thi ca :
Canh Đinh , Khôn thượng thị Hoàng Tuyền
Khôn Hướng, Canh Đinh thiết mạc ngôn
Ất Bính tu phòng Tốn Thủy tiên
Tốn Hướng kỵ hành Ất Bính thượng
Giáp Quý Hướng trung ưu kiến Cấn
Cấn phùng Giáp Quý họa liên liên
Tân Nhâm, Kiền lộ tối nghi kỵ
Kiền Hướng, Tân Nhâm họa diệt nhiên
Bốn cài Sát này là Tứ Lộ, đảo lộn lại
hóa ra Bát Lộ Hoàng Tuyền, cũng sát kỵ như nhau.
Đó là kỵ ở trên phương vị Lập Hướng có nước chảy lại Minh Đường ngay trước mặt.
Khai Môn, Phóng Thủy càng kỵ nữa. Lấy Tọa Sơn khởi lệ, dùng bàn tay mà định 12
vị của vòng Trường Sinh, tính đến số Mộ, Tuyệt là phương Tiêu Thủy ở đó.
Ví
dụ như : Giáp Sơn Canh Hướng, thì Giáp là Mộc, Mộc Trường sinh ở Hợi, Mộc
Dục ở Tý, Quan Đới ở Sửu...Mộ ở Đinh Mùi, Tuyệt ở Khôn Thân.
Đây là mượn Hướng thược để lấy bàn về
Tọa Sơn. Như Canh Hướng thì Tọa Giáp Sơn, Đinh Hướng thì Tọa Quý Sơn, đó chính
là nghĩa câu " Kim Dương thu Quý Giáp chi linh", tức là nước ở phương
Mùi Khôn nên chảy đi, không nên chảy lại trước Huyệt, Thủy triều vào là bại,
phạm Hoàng Tuyền đại sát, bị yểu vong, cô quả. Chỉ lấy Tọa Sơn làm chủ, không
cần bàn đến Long Tả Toàn hay Long Hữu Toàn gì cả. Thánh Nhân nói :
Sinh-Vượng-Mộ hợp lại mà Mạnh-Trọng-Quý 3 phòng phân biệt; là ý nói : 2 phương
Sinh, Vượng nên chảy lại, Mộ khố phương nên chảy đi. Nếu nên chảy vào mà lại
chảy đi là phản! Là Sinh-Dưỡng Thủy khứ thì Mạnh phòng, tức là con trưởng bại.
Nếu Vượng Thủy mà chảy đi thì trung phòng, tức con thứ hai bại. Nếu như Thủy
nên chảy đi mà chảy lại, như là Thủy phượng Tử, Mộ chảy lại vào trước Huyệt đó
thì Quý phòng, con thứ ba bại. Ví dụ ở cục này như thế, các cục khác cũng
tương tự vậy mà suy ra.
ĐỊA CHI HOÀNG TUYỀN:
Mẹo Thìn Tị Ngọ phạ Tốn cung
Ngọ Mùi Thân Dậu, Khôn nhược phùng
Dậu Tuất Hợi Tý, Kiến cung thị
Tý Sửu Dần Mẹo, Cấn tao hung.
Nghĩa là:
Mẹo Thìn Tị Ngọ thì Hoàng Tuyền ở Tốn
Ngọ Mùi Thân Dậu thì Hoàng Tuyền ở Khôn
Dậu Tuất Hợi Tý thì Hoàng Tuyền ở Kiền
Tý Sửu Dần Mẹo thì Hoàng Tuyền ở Cấn
BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN:
Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn sơn
Bạch Hổ chuyển tại Đinh Mùi gian
Cánh hữu Ly Nhâm Dần kiêm Tuất
Hợi sơn lưu Thủy chủ ưu phiền
Chấn Canh Hợi Mùi tứ sơn kỳ
Thủy nhược lưu Thân khước bất nghi
Cánh hữu Đoài Đinh Tị kiêm Sửu
Phạm trước Ất Thìn Bạch Hổ khi.
Khôn Ất nhị cung Sửu mạc phạm
Thủy lai tất nam định vô nghì
Cấn Bính sầu phùng Ly thượng hạ
Tốn Tân ngộ Khảm họa nan di
Nghĩa là
Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì Bạch Hổ
Hoàng Tuyền ở Đinh Mùi
Ly Nhâm Dần
Tuất ..................................
Hợi
Chấn Canh Hợi
Mùi ..................................
Thân
Đoài Đinh Tị
Sửu ....................................Ất
Thìn
Khôn
Ất ....................................Sửu
Cấn
Bính ....................................Ly
Tốn
Tân ....................................Khảm
Cả 2 cái Hoàng Tuyền trên đây ( Địa Chi
Hoàng Tuyền và Bạch Hổ Hoàng Tuyền) đều lấy Hướng làm chủ, kiêng kỵ mở cửa và
chỗ nước chảy tiêu đi ở phương đó.
Tóm lại : Quyết (phép) này lấy
Hướng thượng để luận định về Thủy lai đáo đường, hoặc Thủy khẩu, chỗ tiêu đi và
đường ngõ đi, rất sợ phạm vào phương kỵ sát đó, sẽ hao người tốn của, tai
họa và ly hương biệt tổ, nghiệm lắm! Cần dựa vào Thủy để lấy Hướng thì không bị
những cái sát đó. Như Khôn Thủy lai thì lập 2 hướng Khôn Thân mà thu Thủy thì
tốt, nếu lập Hướng Canh tức bị phạm Hoàng Tuyền thì xấu.
TẦNG THỨ NĂM
CỬU TINH ĐẾ ỨNG TỨ VIÊN CỤC
Cửu tinh là: Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ, Bật phối hợp với 24 sơn,
dụng Địa mẫu quái để định, theo Bát Quái biến sao. Lấy cung đối với cung khôn
khởi Tham Lang để phối hướng.
Như Cấn Bính là Tham Lang thuộc Mộc, Cự Môn Thổ ở Tốn Tân, Kiến Giáp là Lộc Tồn
Thổ, Ly Nhâm Dần Tuất là Văn Khúc Thủy, Chấn Canh Hợi Mùi là Liêm Trinh Hỏa,
Đoài Đinh Tị Sửu là Vũ Khúc Kim, Khmả Quý Thân Thìn là Phá Quân Kim, Khôn Ất là
Phụ Bật thuộc Thổ Mộc đó vậy.
Kinh Dịch nói: Nhìn khí tượng bay trên trời rũ xuống thấy cát hung, ở trên trời
thành khí tượng, ở dưới đất thành cái hình thể, chiếu xuống 24 sơn. Tinh có tốt
có xấu, cho nên đất cũng có lành có dữ.
Bảo rằng: Trời che Đất chở là lấy sao Thiên Hoàng ở Hợi, chiếu vào Tử-vi-viên ở
trên đó, và Cấn là Thiên-thị-viên, Tốn là Thái-vi-viên, Đoài là Thiếu-vi-viên.
Bốn cục này là 4 Vi-Thiên-Tinh rất quý. Thiến Quý chiếu vào Bính, Thiên Ất thì
chiếu vàoTân, Nam Cực chiếu Đinh hợp Cấn, Tốn Đoài gọi là Lục Tú. Lại còn Thiên
Bình chiếu vào Tị là đối cung Tử-vi-viên, gọi là Đế đô minh đường. Nên Hợi Tị
hợp với Lục Tú gọi là Bát Quý. Ly cư chính nam là chính giửa trời đất đều tốt
lành, nếu là mọi Dương Long thì là hạ (kém). Tóm lại, lấy Tử-Vi, Thiên-Thị,
Thái-Vi, Thiếu-Vi làm 4 vị Thiên Tinh quý, trong 4 viên này thì có Tử-Vi,
Thiên-Thị, Thái-Vi là 3 viên có cái hiệu nghiệm lập quốc, kiến đô, hợp 3 viên
là tốt. Còn như Thiếu-Vi không phải là Đế tòa, là Huyền Đô không nên lấy dùng.
Lấy 24 vị Thiên tinh này phối với sơn, sa, thủy ứng nghiệm.
Lại còn lấy cái Long của Tam Dương, Lục
Kiền là Thiên Hợi, Địa Cấn, Nhân Đinh, Tài Mão, Lộc Tốn, Mã Bính, tinh thần là
Ngũ Cát đinh. Ngọc môn Tốn, Văn bút Tân, Học đường Bính, Xá đường Mão, Trường
bịnh Bính Đinh. Kim đới Canh Dậu Tân, Ngân đới Mão Cấn, Cấu Phú Văn Quý Tốn
Tân. Trên đây, trong cái Tam Cát, Lục Tú này thì Dương Trạch đại vượng, nhân
đinh phú quý, và bền vững lâu dài; còn Âm Phần không bị mối, kiến, bùn nước vào
quan tài mà phát phúc lâu dài. Đó là cùng vị về Thiên Tinh, Sa, Thủy, tốt hay
xấu do đó mà định đoán. Hễ Sa quý thì sinh ra người quý, Sa tiện thì sinh ra
người tiện. Còn Tầm Long nhập huyệt ở chỗ quá giáp, hễ thấy Thổ sắc biến khác
thì tìm huyệt ở chỗ quá giáp đó. Như là: Quá giáp là đá thì huyệt cũng có đá,
sắc đất màu đỏ là Liêm Trinh, vàng là Cự Môn... tất cả đều lấy Cửu Tinh mà
luận.
Xem Thổ sắc thì chuyên xem Long quá
giáp, chỗ quá giáp với chỗ huyệt tính tình cũng tương tự.
Phép xem Thổ sắc biến thì cần yếu lấy chỗ Long Nhập Thủ ở chỗ quá giáp đặt La
Kinh coi. Như Cấn Bính là Tham Lang thuộc Mộc, mà Long đến lại huyệt thì sắc
đất hẳn xanh; Tân Tốn là Cự Môn thuộc Thổ thì sắc đất vàng; Kiền Giáp là Lộc Tồn
Thổ thì chỗ huyệt sắc đất cũng vàng; Ly Nhâm Dần Ngọ Tuất là Văn Khúc Thủy thì
sắc đất chỗ huyệt hẳn đen; Chấn Canh Hợi Mùi là Liêm Trinh Hỏa thì sắc đất chỗ
huyệt hẳn đỏ; Đoài Đinh Tị Sửu là Vũ Khúc Kim thì sắc đất hẳn trắng; Khảm Quý
Thân Thìn là Phá Quân Kim thì đất chỗ huyệt hẳn là đen và trắng; Khôn Ất là Phụ
Bật Thổ Mộc thì có phân ra Phụ thuộc Mộc, Bật thuộc Thổ, do vậy sắc đất chỗ
huyệt hẳn là xanh vàng. Lấy màu sắc hồng hoàng, sáng tươi, mềm dẻo thì tốt; đen
khô, rời vụn thì rật xấu. Thổ phì hậu thì tốt, kiên ngạnh và đá cứng cũng hung.
Trên đây, trước nói về các công dụng của
Cửu Tinh, sau kế Tứ-Viên Cửu tinh để ứng với viên-cục thiên tinh của 24 phương
vị, phân hoạch kinh độ của một kinh bàn đều ra trong và ngoài thông, hợp cẩn
trọng cả.
PHÉP XEM SẮC ĐẤT:
Thiên Thôi Quan nói: Chỗ quá giáp màu sắc đất tía thì huyệt cũng tía, hồng là
Liêm Trinh, hoàng là Cự Môn.
Thuyết an táng của tiền hiền nói: Bói để
tìm chỗ đất táng mộ hay làm nhà ở xem tốt xấu, thì xem lấy chỗ đất sắc màu tươi
sáng có cỏ cây mọc xanh tốt, chỗ ấy trước kia không phải là sông, đầm, thành
trì và không có đường đi áp bức thì tốt. Chỗ đất có khí mạch tốt thì hài cốt
tốt, vong hồn được yên ổn, con cháu được thịnh vượng, đó là lẽ cố nhiên. Nên
người xưa định đặt huyệt chỗ nào thì bên ngoài xem hình thể núi sông, bên trong
thì xem màu sắc đất tốt xấu, mới chắc chắn là được. Cốt nhất là được đất chắc
mịn, mềm dẻo, sắc tươi sáng, thấy hồng hoàng như viên ngọc hay như thớ thịt,
nửa nạc nửa mỡ là tốt thượng hạng. Nếu khô khan, rời rã như cát sỏi vụn thì xấu
không có khí mạch.
Tụ khí là hành Kim thì đất trắng, là Thủy khí thì đất đen, Mộc khí thì sắc
xanh, Hỏa khí thì đất đỏ, là Thổ khí thì sắc vàng. Có nơi đất như cẩm thạch,
óng ánh như long não, như ngọc bích là rất quý. Cần phải lựa xem chỗ nào có
tính cách đặc biệt mới là thật tốt. Ví dụ: Cả vùng đất đó đều bình thường như
nhau, chỉ có một chỗ khác sắc, hoặc mịn tươi hơn là rất tốt, khi khai đào huyệt
thấy có sinh vật nào như rùa, cá là tinh túy của Thiên Địa, là có điềm tốt. Còn
nếu thấy rắn, chuột, sâu bọ, kiến là xấu. Cấn phải nhận định rõ ràng kỹ lưỡng.
Khi xem Âm phần, Dương trạch, cả hai bên
đầu tối kỵ không được phạm vào Long Thể, phải để dư ra rộng rãi tư nhiên. Nếu
bị phá thương Long sẽ sinh ra kiện tụng, hao tài, tổn nhân đinh, đã kinh nghiệm
thấy nhiều không sai. Nếu không, hãy xem những nhà không biết, khi Tạo Táng đào
xẻ phạm vào Long Thể thì sẽ thấy sự tai hại. Ngoài ra còn, ở ngoài chỗ Thủy
Khẩu có tượng đá đặc biệt, hoặc có những diệu tinh, cũng không được phá hoại, phạm
đến cũng sẽ bị ảnh hưởng như thế.
TẦNG THỨ SÁU
ĐỊA BÀN CHÍNH TRÂM
Gọi là Tiên Thiên Kinh Bàn, hay còn gọi
là La Kinh. Trước hết phân ra Bát Quái để định vị, lập hướng. Tiên Thiên Địa
Chi chỉ có 12 Chi ở 12 vị, gọi là 12 Lôi Môn, làm Thi-Cốt Long. lấy Chính Trâm
mà luận định. Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu là ngôi chính của Trời Đất; Dần, Thân, Tị, Hợi
là nơi Trường Sinh của Ngũ Hành; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là chổ Ngũ khí Quy nguyên
(Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ trở về gốc) cho nên Hậu Thiên vận dụng Chính Trâm,
thì Chi nào cũng có Chính đính (chơn chính).
Địa chi thuộc Âm, tĩnh mà không động. Hậu Thiên thêm vào Tứ Duy và Bát Can: Tứ
Duy là Càn, Khôn, Cấn, Tốn; Bát Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm,
Quý. Lấy Tứ Duy và Bát Can thuộc về Dương và chủ động. Lấy ở giửa ranh giới của
12 Chi và Tứ Duy, Bát Can tức nơi giao giửa Âm và Dương là lúc Khí hậu thay đổi
ở khoảng đó. (cái này các anh chị, các bạn có thể thấy ở tầng tứ 29, nơi giao
nhau giửa chúng luôn là điểm giao Tiết Khí). Nên ở khoảng Thiên Địa là có Âm thì
cần phải có Dương, tức như trong Âm Chi phải có Dương Can, không thể hỗn độn
được. Âm nhờ Dương nên không bị Hư, Dương nhờ Âm nên không bị Cô (đơn lẻ). Hai
khí tự nhiên có sự hoá sinh, sinh hoá huyền diệu. Người xưa chế tạo ra Chính
Trâm cũng không ngoài sự biến hoá của 12 Chi, Địa bàn vốn làm gốc rễ của Trung
trâm, Phùng trâm và Xuyên sơn, Thấu địa. Những ngôi Sinh, Vượng, Hưu, Tù của
Ngũ Hành, hoặc thường lệ của Âm, Dương thuận, nghịch di chuyển tự đấy (12 Địa
Chi) mà suy ra cả. Trên có thể phân độ của các vị Tinh tú, dưới có thể hoạch
định được địa phận của các phương, rất huyền diệu và đầy đủ. Người trí thức nên
thuộc hiểu cái đó.
Đời sau người ta dùng Chính Trâm phân 24 sơn, là gốc do ở Vua Văn Vương hoạch
định Bát Quái,
mỗi quái quản tam sơn (3 phương) vị:
Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu ở bốn ngôi chính, tức
là Khảm, Ly, Chấn, Đoài, là 4 quẻ tàng.
Càn, Khôn, Cấn, Tốn ở bốn phương bàng
(tứ duy), là 4 quẻ hiển
ĐỊA VỊ CỦA TỨ CHÍNH VÀ TỨ DUY
BÁT QUÁI CHÍNH VỊ
PHỤ VỊ TẢ, HỮU
THUỘC QUẺ
Khảm Chính
Bắc Nhâm, Quý
tàng
Ly
Chính Nam
Bính, Đinh
tàng
Chấn
Chính Đông
Giáp Ất
tàng
Đoài
Chính Tây
Canh, Tân
tàng
Càn
Tây Bắc
Tuất, Hợi
hiển
Khôn
Tây Nam
Mùi, Thân
hiển
Tốn
Đông Nam
Thìn, Tị
hiển
Cấn
Đông Bắc
Sửu, Dần
hiển
Trong đây gồm đủ cả vị Chính, vị Thiên,
ngang Trời, dọc Đất đều thấu suốt hết cả, dùng để Cách Long, Định Huyệt, Lập
Hướng, Thừa Phong, Tiêu Sa, Nạp Thuỷ, Cất nhà, An phần, trọn phôi Âm Dương, tác
dụng rất rộng rãi, vô cùng. Trong này bày Lục Giáp tại Bát Môn thì suy ra Ngũ
Vận Lục Khí, Ngũ Hành điên đảo, còn dùng nhiều việc khác vô cùng vậy! Cổ nhân
có câu " Thức đặc Gủ Hành điên đảo điên, tiên thị nhân gian Địa trung
Tiên". Nghĩa là: Biết được phép dụng của Ngũ Hành xoay chuyển xuôi ngược,
đảo lộn, tức là Tiên trong thế gian rồi!
Biết thì làm được hợp Long, Huyền Quan
thông khiếu. Phép dùng thì trước hết đặt La Kinh trên Long Tích (sống đất mô
lên) chiếu phân biệt 4 cái Đại Thuỷ Khẩu, rồi sau lấy đến Tả toàn, Hữu toàn mà
luận định
Thành Hiền xưa nói: "Ất Bính giao
nhi xu Tuất. Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn. Sửu Ngưu nạp Canh Đinh chi khí. Kim
Dương thu Quý Giáp chi linh". Bốn câu quyết này bàn về Lý khí của Tiên
Thiên, Hậu Thiên, cần phải hiểu tường tận về 4 cái Thuỷ Khẩu của 4 cục:
VÍ DỤ:
1. Như phương Mẹo, Thuỷ từ Ất chuyển lại là Hữu toàn Thuỷ, Ất thuộc Âm Mộc thì
phải phối hợp với Thuỷ ở phương Bính là Dương Hoả, rồi chảy ra phương Tuất là
Mộ Thuỷ Khẩu của Hoả cục. Được như thế là Phu Thê tương phối, hợp lẽ. Nếu phối
với Thuỷ ở phương Canh chảy ra phương Sửu, hoặc phối với Giáp chảy ra Mùi, hay
phối với Nhâm chảy ra Thìn...thì phạm về Dương Sai. Ví như nam nữ gặp nhau
ngoài đường mà nhận càn làm chồng, làm vợ vậy.
2. Như phương Ngọ, Thuỷ từ Bính chảy qua
là Tả toàn Thuỷ, Bính là Dương Hoả thì phải phối với Thuỷ ở Ất là Âm Mộc, rồi
chảy ra Tuất là Thuỷ Khẩu. Được như thế là Phu Thê tương phối thì đúng tốt. Nếu
phối Tân Thuỷ mà chảy ra ở Thìn, hoặc phối với nước ở Quý mà ra ở Mùi, hoặc
phối với Đinh mà ra ở Sửu...là phạm về Âm Thác. Đó chẳng khác nào Âm Dương hỗn
tạp, người đi đường vơ bậy làm chồng, vợ vậy.
Hai
đoạn trên đây là nghĩa của câu "Ất Bính giao nhi xu Tuất".
3. Như Thuỷ từ phương Tân chảy sang
phương Dậu là Hữu toàn Thuỷ, Tân là Âm Kim thì phối với Nhâm là Dương Thuỷ, mà
xuất ra ở Thìn là Mộ Khố của Thuỷ cục, được như thế là Phu Thê tương phối tốt.
Nếu phối với Canh Thuỷ mà chảy ra ở Sửu, phối với Giáp Thuỷ chảy ra ở Mùi, phối
với Bính Thuỷ chảy ra ở Tuất là phạm Dương sai.
4. Như Thuỷ từ Nhâm chảy sang Tý là Tả
toàn Thuỷ, Nhâm là Dương Thuỷ thì phối với Tân là Âm Kim, rồi chảy ra ở Thìn,
được như thế mới là Phu Thê tương phối. nếu phối với Đinh Thuỷ mà chảy ra ở
Sửu, phối với Quý Thuỷ mà chảy ra ở Mùi, phối với Ất Thuỷ mà chảy ra ở Tân là
phạm bệnh Âm Thác.
Hai đoạn trên đây là giải nghĩa của câu "Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn"
5. Như phương Ngọ mà nước từ phương Đinh
chảy lại là Hữu toàn Thuỷ, Đinh là Âm Hoả thì phải phối hợp với Thuỷ ở phương
Canh là Dương Kim, rồi chảy ra ở Sửu là Mộ Thuỷ Khẩu của Kim cục, được như thế
mới đúng là cách Phu Thê tương phối. Nếu phối Bính Thuỷ xuất ở Tuất, hay phối Giáp
Thuỷ xuất ở Mùi, phối Nhâm Thuỷ xuất ở Thìn, là phạm về bệnh Dương Sai.
6. Như Thuỷ từ phương Canh chảy sang Dậu là Tả toàn Thuỷ, Canh là Dương Kim thì
phối hợp với Đinh là Âm Hoả, rồi chảy ra ở Sửu, được như thế mới là Phu Thê
chính phối. Nếu phối Quý xuất Mùi, phối Ất xuất Tân, phối Nhâm xuất Thìn là
phạm Âm Thác.
Hai đoạn trên đây là nghĩa của câu
"Sửu ngưu nạp Canh Đinh chi khí"
7. Như Thuỷ từ Quý chảy lại phương Nhâm
Tý là Hữu toàn Thuỷ, Quý là Âm Thuỷ thì phối với Thuỷ ở Giáp Dương Mộc, rồi chảy
ra ở Mùi là Mộ Thuỷ Khẩu của Mộc cục, được như thế mới là Phu Thê chính phối
tốt. Nếu phối với Canh Thuỷ xuất ở Sửu, phối với Bính Thuỷ xuất ở Tuất, phối
với Nhâm Thuỷ xuất ở Thìn là phạm Dương sai.
8. Như Thuỷ từ phương Giáp chảy qua Mẹo là Tả
toàn Thuỷ, Giáp là Dương Mộc thì phối với Quý là Âm Thuỷ, mà chảy ra Mùi Khẩu,
được như thế mới là Phu Thê tương phối. Nếu phối với Tân Thuỷ xuất ở Thìn, phối
với Đinh Thuỷ xuất ra ở Sửu, phối với Ất Thuỷ xuất ra ở Tuất, tức là phạm Âm
Thác.
Hai đoạn trên đây là giải nghĩa của câu "Kim Dương thu Quý Giáp chi
linh"
Bốn cái đại cục này là lấy cái Thuỷ nhập
đường và xuất khứ khẩu (nước chảy lại Minh Đường và chảy ra Thuỷ Khẩu), để phối
hợp với Long và Toạ Sơn.
Còn về Tả toàn, Hữu toàn của Long Nhập
Thủ, thì cũng lấy cái sự thuận nghịch như phép lệ của Thuỷ.
Ví dụ:
Như 5 cái Long Nhập Thủ là Dần, Giáp,
Mẹo, Ất, Tốn, năm phương này lấy Giáp Mộc làm Tả toàn Long, tức là Trường sinh
Hợi, tính thuận đến Nhâm, lần chuyển đi thì Đế Vượng tại Mẹo, Mộ tại Mùi. Nếu ở
Ất quay ngược lại thì lấy Ất Mộc làm Hữu toàn Thuỷ, Trường sinh tại Ngọ, tính
lần ngược lại đến Tị, chuyển đi đến Dần là Đế Vượng, Tuất là Mộ
Như 4 cái Long Nhập Thủ là Tị, Bính,
Ngọ, Đinh; thì lấy Bính Hoả làm Tả toàn Long, tính thuận thì Trường Sinh tại
Dần, Đế Vượng tại Ngọ, Mộ tại Tuất; nếu từ Đinh quay ngược là Hữu toàn Long,
thì Trường Sinh tại Dậu, Đế Vượng tại Tị, Mộ tại Sửu.
Như 5 cái Long Nhập Thủ là Thân, Canh,
Dậu, Tân, Càn; nếu từ Canh chảy lại là Tả toàn Long, tính thuận thì Trường Sinh
tại Tị, Đế Vượng tại Dậu, Mộ tại Sửu; nếu chảy từ Tân ngược lại là Hữu toàn
Long, thì tính nghịch lại Trường Sinh tại Tý, Đế Vượng tại Thân , Mộ tại Thìn.
Như cái Long Nhập Thủ là Hợi, Nhâm, Tý,
Quý, Cấn, Khôn, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; thì Tả toàn Long là Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ,
thì tính Trường Sinh tại Thân, Đế Vượng tại Tý, Mộ tại Thìn; Hữu toàn Long thì
phân ra Quý lấy Trường Sinh ở Mẹo, Đế Vượng tại Hợi, Mộ tại Mùi; Kỷ Âm Thổ thì
tính Trường Sinh tại Dậu, Đế Vượng tại Tị, Mộ tại Sửu
Phép này là lấy trong Long Nhập Thủ, lấy
Thuỷ xuất Mộ khố mà luận định phương vị, Lập Hướng, phải theo đúng như thế mà
Tiêu sa, Nạp Thuỷ. Các bậc Tiền Hiền đã kinh nghiệm xác nhận, tường tận minh
bạch, hậu học nên thận trọng chớ có sai lầm.
Chính Trâm là kim đỏ ở Địa bàn chỉ giửa
Ngọ ở phương Nam, kim đen chỉ vào giửa chữ Tý ở phương Bắc. Lấy Bát Can thì
theo phương Lộc, Tứ Duy thì theo phương Mộ. Tám quẻ gồm 8 cung, mỗi quẻ 3
phương, chỉ có Càn, Khôn, Cấn, Tốn là 4 quẻ chính, tức là Tứ Trụ Quái
***
Theo NCD mình thì trong đây cũng tàng ẩn
cả Mậu Kỷ: Mậu nhập vào Khôn, Kỷ nhập vào Cấn.
TẦNG THỨ BẢY
ÂM DƯƠNG LONG
(Xuất tự Tiên Thiên Bát Quái, nap giáp
thủ phối)
Kiền nạp Giáp; Khôn nạp Ất; Ly nạp Nhâm,
Dần, Tuất; Khảm nạp Quý, Thân, Thìn, đó là mười hai Dương Long hợp với bốn quẻ
Dương. Cấn nạp Bính; Tốn nạp Tân; Chấn nạp Canh, Hợi, Mùi; Đoài nạp Đinh, Tị,
Sửu, đó là mười hai Âm Long hợp với bốn quẻ Âm. Lấy 24 sơn, Âm Dương đều có một
nửa. Dương Long dùng điểm tròn trắng là Dương Hư, là sáng vậy; Âm Long dùng
điểm đen làm Âm Thực, là tối vậy. Chia ra 12 vòng tròn trắng, 12 chấm đen là để
thấy Âm, Dương phân biệt, dùng để xét về Long.
Khi Âm Long chuyển động thì đốt này đến
đốt khác đều là Âm, Âm Long thì lập Âm Hướng, thu Âm Thuỷ thì tốt lành, lẫn vào
Dương thì độc. Dương Long chuyển hoán từ đốt này đến đốt kia cũng đều là Dương,
Dương Long đáo đầu Huyệt thì lập Dương Hướng, thu Dương Thuỷ thì tốt lành, lẫn
vào Âm thì xấu. Nhận rõ được Long thì quý, tiện phân biệt; Dương Long không quý
mà Âm Long rất quý! Âm Long quý là lấy cái Tam Cát, Lục Tú tại Tứ Thiên Viên
tinh chiếu xuống, có ý nghĩa là lấy 9x6 xung hoà.
Xét rõ Long mà thu nạp Thuỷ. Là lấy Tam cát, Lục Tú hết thảy ở trong Âm Long.
Tỷ như Hợi, Chấn, Canh là Tam Cát thì Cấn, Tốn, Bính, Tân, Đoài, Đinh là Lục
Tú; lai Long và Toạ Huyệt đều là quý địa, thượng hạng! Tất cả Dương Long đều là
hạ cấp.
Đại sư Phong Thuỷ LẠI BỐ Y nói: Không
nên chấp nhất để mà bàn; chỉ cốt Lai Long tú mỹ, lấy cái Long Chân Huyệt thì
cũng xuất pháp phú quý. Cho nên, bàn về Long lấy Tịnh Âm, Tịnh Dương làm chính;
xét cái đại lược của 24 Long lấy số Tiết Hành Long nhiều hay ít mà bàn về Hướng
và Tiêu Thuỷ, Thuỷ lộ Khứ Lai đại, tiểu...v.v... Nếu cố chấp một cái bế tắc mà
cắt xén, cầu khởi cho thông thì dẫu là Đại địa, Kỳ cục tất cũng bị mất cái hay
đi, và những hào ở trong Bát Quái cũng sẽ vì đó mà bị biến đổi.
Ví dụ: Quẻ Kiền là Thiên Phụ, Kiền quái thì có 3 nét liền. Lần thứ nhất biến
hào trên đứt thành quẻ Đoài, lần thứ hai biến TIẾP hào giửa thành quẻ Chấn, lần
thứ ba biến TIẾP hào dưới cùng thành quẻ Khôn, lần thứ tư biến TIẾP hào giửa
thành quẻ Khảm, lần thứ năm biến TIẾP hào trên thành quẻ Tốn, lần thứ sáu biến
TIẾP hào trung thành quẻ Cấn, lần thứ bảy biến TIẾP hào dưới cùng thành quẻ Ly,
lần thứ tám biến TIẾP hào giửa trở về nguyên bản quái của quẻ Kiền.
Ngoài ra 7 quẻ kia đều theo thứ tự biến
quẻ y như thế. Phép này là theo quẻ biến khởi Tham Lang.
Ví dụ: Kiền Long, thì cung Đoài là biến quái thứ nhất, tức khởi Tham Lang; lần
thứ hai biến được thành Chấn, tức Cự Môn; lần thứ ba biến được quẻ Khôn, là Lộc
Tồn; lần thứ tư biến được quẻ Khảm, là Văn Khúc; lần thứ năm biến được quẻ Tốn,
là Liêm Trinh; lần thứ sáu biến được quẻ Cấn, là Vũ Khúc; lần thứ bảy biến được
quẻ Ly, là Phá Quân; lần cuối cùng biến được quẻ Càn bản vị chính là Phụ Bật
Đó là dựa trên Long mà tìm Tam Cát, Lục
Tú theo phép ấy.
Thuỷ pháp thì theo Hướng thượng khởi
Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn.
Ví dụ như: Ất Hướng thì khởi Khôn là Phụ
Bật, Khảm là Vũ Khúc, Đoài là Phá Quân, Chấn là Liêm Trinh, Ly là Tham Lang,
Kiền là Cự Môn, Tốn là Lộc Tồn, Cấn là Văn Khúc. Lấy Phụ, Vũ, Tham, Cự là bốn
cái Cát; tránh Phá, Liêm, Lộc, Văn là bốn cái Hung..
Trước lấy Cửu Tinh là Tứ Viên trung làm
Thiên tinh tối thượng: Thiên Quý chiếu Bính, Thiên Ất chiếu Tân, Nam Cực chiếu
Đinh, Thiên Bính chiếu Tị, là đối cung với Tử Vi Viên, gọi là Đế Toà Minh
Đường. Cho nên Hợi, Tị hợp với Lục Tú gọi là Bát Quý.
Ly ở giửa phương Nam gọi là "Thiên
Địa chi trung". Ly nạp Âm với Nhâm, vì vậy mà mọi sao đều ủng hộ vào Nhâm,
nên gần Đế Viên (tức Tử Vi Viên), cũng là rất Quý (có lẽ vì thế nên trong khoa
xem bói qua Thập Can, thì người xưa nói "Quý biến Thiên" chăng?).
Chấn nạp Canh, ứng Liêm Trinh, người xưa bảo "đoạt võ chi địa" là đất
đoạt cả võ quyền. Vì Hợi, Chấn, Canh là Tam Cát. Ngoài ra như Thìn, Tuất, Sửu,
Mùi và mọi Dương Long đều kém hơn.
Âm Long thì phát phúc lâu dài, Dương
Long thì phát phúc dần dần. Nhưng cũng chớ nên câu luận. Nếu Dương Long được
hợp cục, chân thì cũng hay phát phúc bền lâu. Âm có Lục Tú thì Dương cũng có
Lục Tú. Như Kiền quái thượng hào nhất biến vi Đoài; Khảm quái thượng hào nhất
biến Tốn; Ly quái thượng hào nhất biến vi Chấn; Khôn quái thượng hào nhất biến
vi Cấn...
Bát Quái thì mỗi quái quản ba sơn, lấy
Long làm chủ, theo sao biến của đối cung phân chia đi được Tham, Cự, Vũ. Nếu
quái thuộc Dương thì Lục Tú thuộc Âm, nếu quái thuộc Âm thì Lục Tú thuộc Dương.
Cho nên, có thể nói là Âm dụng Dương triều, Dương dụng Âm ứng làm chuẩn mực.
TẦNG 17: ĐỊNH TỨ CÁT, TAM KỲ, BÁT
MÔN, CỬU TINH;
TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH ĐỆ LỘC MÃ, QUÝ
NHÂN, ĐÁO PHƯƠNG, ĐỊNH CỤC
Co dãn 60 long thấu địa, gọi là thiên Kỷ, hay thấu địa quang bảo đó là mộ thừa
khí; đưa khí tốt vào huyệt, Tiên Thánh nói: Núi sông có linh thiên mà không có
chủ; hài cốt có chủ nhưng không có linh thiêng. Người chết còn linh gì được ?
Chẳng qua là cái khí thiêng của núi sông tụ lại, là chân long kết huyệt, chung
đúc khí tinh anh lại 1 chỗ, làm cho hài cốt ấm áp, trong sạch, thì cái tinh
khí ấy truyền vào con cháu, được thấm nhuần mà phát sanh ra người
tinh anh v.v…
Như: 12 vị thiên can lai long, trong
vòng đó có 1 huyệt gặp được vị châu bảo, còn xê dịch sang hai bên tả, hữu là vị
cô hư, sát diệu, không vong. Cách một huyệt hỏa khanh ở bên tả và hữu lại có 2
huyệt có thể kết được. Như vậy là có 3 huyệt phát phúc. Như: trong 12 long địa
chi nhập thủ, thì mỗi long có 2 huyệt, là chân bảo. Trong 12 chi, mỗi chi có 5
chữ Tý, cộng lại thành 60 hoa Giáp hợp với 12 thiên can trước là 72 long xuyên
sơn nhập thủ chỗ tọa huyệt.Khi đặt La kinh thì phải đặt ở chỗ kết huyệt, thừa
đúng chỗ lý khí của loan đầu, mà chỉ dùng xem 60 long thấu địa thôi, xuyên sơn
long không cần phải dùng đến ở đó. Lấy thấu khí vào quan, ở sau huyệt, khoảng 8
thước (thước Đông phương). Những long thuộc về địa chi, ở giữa chỗ phùng (2 mép
khép lại) là hỏa khanh, tối kỵ, không nên đặt quan tài vào đó, mà phải thấu vào
long huyệt châu bảo, ở 2 bên tả, hữu hỏa khanh. Học giả khi đăng sơn xem đất,
trước phải chiêm nghiệm những ngôi đất cũ, từ xưa nay, hãy còn danh tiếng tích,
thì mới biết phép thừa khí, phân biệt được xấu, tốt đã, sau mới đoạt được Thần
công, thắng tạo hóa
Sau đây, trình bày về 24 ngôi châu bảo
thấu địa long và liệt đô về kỳ môn, tử, phụ, tài, quan, quý nhân, lộc mã, ngũ
thân, sa, thủy.
GIẢI THÍCH VỀ TỬ, PHỤ, TÀI, QUAN, HUYNH
ĐỆ GỌI LÀ NGŨ THÂN
Thấu địa kỳ môn lục Giáp, chia làm 2 thứ độn là âm và dương:
1- Dương sinh ở Giáp Tý, là dương độn
thì thuận khởi lục nghi nghịch bá tam kỳ
2- Âm sinh ở Giáp Ngọ, là âm độn thì
nghịch khởi lục nghi thuận bá tam kỳ.
Sự cần thiết là thu được sơn của tứ cát,
phác được thủy của tam kỳ, tọa vào các phương lộc, mã, quý nhân, phải kỵ cho
ngũ hành quan sát tránh chỗ âm, dương, sai thác, bỏ những tinh thần án phục,
thì lấy được những độ thanh kỳ của bát can. Lấy đó mà lượng sa, tính thủy thì
không sai.
Phép định huyệt thì lấy hỗn thiên Giáp Tý làm chủ trong 60 long, 12 chi, mỗi
chi chiếm 5 ngôi. Chia các tinh độ thuộc ngũ hành của 6 Giáp Tý ra, thừa khí ở
đó. 60 thấu địa long, tọa huyệt làm nội quái, do hỗn thiên Giáp Tý để xét sơn
thủy tốt, xấu làm cần thiết, lấy quý nhân, lộc mã, hoặc tam kỳ là Ất, Bính,
Đinh, tứ cát là kim, thủy, nhật, nguyệt. Ngũ thân là sa, thủy, tử, phụ, tài,
quan, huynh đệ để tọa huyệt, hợp được sơn của 8 phương. Nếu được kim, thủy,
nhật, nguyệt chiếu hướng, hoặc được tam kỳ tú bạt là sơn hữu lực, hoặc các
phương tử, phụ, tài, quan, huynh đệ, có cao phong viên tú hữu lực; hoặc quý
nhân, lộc mã cũng phù hợp hóa là đất thượng hạng. Quyết định phát
xuất công hầu, khanh tướng, sinh người trung trinh, nhân hậu, anh tài. Còn nếu
hợp được tam kỳ, tứ cát, tất sinh ra người kinh khôi, hào kiệt, liệt sĩ, anh
hung. Pháp này đời nay hiếm người biết đến.
Tiên Thánh tạo ra các quẻ kỳ môn là để
sử dụng các tinh độ biết cách tự nhiên mà xuất. Các học giả hậu thế phần nhiều
là chưa biết nay lục ra thêm 4 tầng để khỏi bị thất truyền, dùng hay không tùy
ý.
Khí Bính Tý ở chính long Nhâm, là tiết đại tuyết, hạ cục, khởi đầu từ Giáp Tý,
Mậu Thân là phù dâu, là nghịch độn tại cửu cung, là quẻ trạch thủy Khôn, thuộc kim,
sơ hào là khuê mộc lang chủ trì (trì thế)
PHẦN LẤY SAU
Nói Hợi, Chấn Canh là Tam Cát Hướng thực
ra là lấy Thiên tinh mà suy ra vậy.
Hợi ứng Bắc cực là Tử Vi Viên, là chủ cả
sinh vật một bàn, thu tượng cả sinh vật một bàn. Cho nên Giáp Tý không bắt đầu
từ Khôn mà chấm dứt ở Hợi, Quý Hợi không chấm dứt ở Kiền mà chấm dứt ở Hợi, đó
là do Hợi là chỗ ty sở của Thiên để hoàn thành mọi việc, là cái sơn tốt đệ nhất
của 24 sơn đó.
Chấn là "dương quân thăng
điện", tức là nơi vua ra triều, là cửa ngõ của mặt trời, là chức vị chủ tể
giúp sự sinh trưởng của vạn vật. Kinh Dịch nói: Thượng Đế ra ở cung Chấn (Đế
xuất hồ Chấn), chuyên giữ quyền hành của Tạo Hoá, sinh khí từ đấy mà ra, cho
nên lấy làm tốt lành.
Canh là ngôi của Hoàng Hậu, là cửa ngõ
của mặt trăng, là chức chủ của ty sở, hàn thành sự vụ. Kinh Dịch nói: Ngôi
Hoàng Hậu ở Canh là Âm, trong 3 ngày, phối hợp với ngôi Hoàng Đế là Dương, thực
là tiến khí đó, cho nên lấy làm tốt.
Chấn và Canh hai ngôi ấy là chỗ cuống
họng, đầu lưỡi của Thượng Đế, để thay quyền Thiên Đế mà điều hành tất cả, cũng
như tướng thay vua thi hành pháp lệnh.
Được ba cái Long ấy, thì không khác gì
vua và hai vị chúa tể, là ba ngôi sao quý trên hết thảy, thừ nhì là cũng lấy
sáu vị khanh tướng, tức là Lục Tú: Cấn, Bính, Tốn, Đinh, Đoài, Tân là những
phương hướng rất tốt đó.
Long thì lấy xung hợp làm tốt, Tinh thì lấy được tương phối làm tốt, đó là 6
ngôi được Thiên Tinh tốt đối chiếu xuống: Như Cấn hợp với Thiên Vị Viên, Bính
lấy Thái Vi phối, Tôn được Thái Ất chiếu, Tân thì lấy Thái Vi chiếu phối, Đoài
la Thiếu Vi tứ phủ, Đinh thì lấy Nam Cực phối, đó là được hợp với tinh anh của
Thiên Tinh ở trên, vậy nên được làm cái vị tốt.
Nếu được quý khí của 6 Long, hình hợp là
Thược cách, quyết sanh xuất tam khanh công, lục khanh, quan quý; thứ cách sanh
ra nhân tài siêu quần quán thế, là lấy 6 ngôi đó kết nạp, theo Bát Quái suy
phân, thì cái tốt đẹp là được Âm Dương xung hoà, chính là ý nghĩa phu phụ phối
hợp, như là: Cấn, Tốn, Đoài ba quẻ, trừ cái trung hào là thể, còn 2 hào thượng,
hạ đều là nhất Âm, nhất dương tương phối, là nghĩa đó.
Cho nên những chữ Can kết nạp, hợp với
Lục Tú, như bốn quẻ Kiền, Khôn, Khảm, Ly, trừ nét giửa (trung hào) làm bản thể,
còn những nét trên và dưới đều là Cô Dương hoặc Hư Âm, không có nghĩa phối hợp.
Vậy nên không ở vào hạng Tam Cát, Lục Tú. Mà quẻ Chấn, hào trên, hào dưới đều
có xung hoà nên hợp Chấn, Hợi, Canh 3 Long cũng là Tam Cát
BÀI THI CA VỀ XEM ĐẤT ĐIỂM HUYỆT:
Âm, Dương nhị tự tối nan minh
Thuỳ thức kỳ trung, Tạo Hoá tinh
Âm nhũ khắp như nam tử dạng
Dương Oa thiên tợ nữ nhân hành.
Thị nam Âm nhũ hưu thường thú
Thị nữ Dương Oa, mạc phá thần.
Thổ Tú, La Văn lai chân huyệt
Thiên cơ đáo thử hợp Khôn Kiền
GIAỈ NGHĨA:
Hai chữ Âm Dương này hiếu được rất là khó, mấy ai biết được cái tinh khí bên
trong của Tạo Hoá? Như là cái hình Âm nhũ (cái đầu vú người đàn bà), trông như
hình dạng cái dương vật của người đàn ông. Cái hình Dương Oa (chỗ đất lõm)nó
giống hệt cái vật hiểm của người đàn bà. Nó giống như là Âm nhũ của đàn ông thì
chớ có phá hoại, sẽ làm tổn thương, gây thương tích vào chỗ đầu chỗ cùng của
nó. Nó như là cái Dương Oa của đàn bà, thì chớ đừng phá vỡ cái môi của nó thè
ra. Còn như cái Thổ Tú và La Văn, là những tinh phong nó ứng ở chung quanh, là
cái thần giữ cửa huyệt, tức là cái then chốt của thiên cơ, đến đó để hợp lại
cái sinh khí của Kiền Khôn (tức là Thiên Địa phối hợp
Sinh Khí thì lấy cái Long, nó chuyển
động là Sinh Long, phải lấy một đoạn Nhập Thủ (lĩnh đường khí), tức là chỗ tóm
thắt nhỏ lại, gọi là thúc khí đó ( trong Địa Lý Tả Ao, khi gần kết Huyệt luôn
nhìn từ điểm này mà dễ tìm ra Huyệt kết tại đâu). Lấy Thuỷ làm cốt yếu, Thuỷ
thì lấy chỗ chảy lại, chảy đi ở trước mặt Huyệt làm đầu nguồn của cung vị Tiêu,
Nạp. Phải xem cả cái nước ở bên tả lẫn bên hữu, và đằng trước, phía sau là Thuỷ
tinh Âm, tịnh Dương là Thuỷ hợp cục hay phá cục, để kinh nghiệm sinh khắc
TẦNG THỨ TÁM
CHÍNH NGŨ HÀNH LUẬN VỀ LONG SỞ THUỘC
Hợi, Nhâm, Tý, Quý ở phương Bắc thuộc Thuỷ. Dần, Giáp, Mẹo, Ất, Tốn ở phương
Đông thuộc Mộc. Tị, Bính, Ngọ, Đinh ở phương Nam thuộc Hoả. Canh, Tân, Thân,
Dậu, Kiền ở phương Tây thuộc KIm. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Cấn, Khôn ở bốn phương
góc thuộc Thổ. Đó là lão tổ tông của Ngũ Hành.
Ngũ Hành là đầu mối của Âm Dương, là cán cân của Tạo Hoá, suốt từ xưa đến nay,
các bậc triết sĩ xoay trời, chuyển đất, vận dụng Kiền Khôn, những hạng anh hùng
vận trù quyết sách vĩ đại, cao xa, tri vãng, tri lai, tri cơ, tri biến, phóng
thuỷ, bát sa, biến phương, lập hướng...vv.. chưa có ai bỏ Ngũ Hành đó mà vận
dụng bằng cái gì khác. Có những tên gọi: Ngũ Hành, Ngũ Sự, Bát Chính, Ngũ Kỷ,
Hoàng Cực, Tam Đức, Kế Nghi, Thứ Trưng, Ngũ Phúc, Lục Cực.
Hành Mộc ở phương Đông chủ về Nhân, hành
Kim ở phương Tây chủ về Nghĩa, hành Thuỷ ở phương Bắc chủ về Trí, hành Hoả ở
phương Nam chủ về Lễ, hành Thổ ở Trung Ương chủ về Tín. Vì vậy 24 sơn trong La
Bàn thì Thuỷ, Hoả ở bốn sơn; Kim, Mộc đều ở năm sơn; chỉ có Thổ ở sáu sơn. Thổ
chân Trung Ương là sơn quý nhất. Vậy nên vạn vật sinh ra ở trong Thổ, mà La
Kinh gồm có hơn ba mươi tầng, chẳng hay bỏ Ngũ Hành mà dùng cái khác được. Lại
theo Hà Đồ Long Mã hiến thuỵ hoá ra Thiên Can, Địa Chi là nguồn gốc ở đó vậy.
Thiên nhất sinh ra Nhâm Thuỷ, Địa lục
Quý hoàn thành. Địa nhị sinh Đinh Hoả, Thiên thất Bính hoàn thành. Thiên tam
sinh Giáp Mộc, Địa bát Ất hoàn thành. Thiên ngũ sinh Mậu Thổ, Địa thập Kỷ hoàn
thành. Đó là Thập Can.
1-6 ở dưới mà sinh ra Hợi, Tý Thuỷ; 2-7 ở trên mà sinh ra Tị, Ngọ Hoả; 3-8 ở
bên tả mà sinh ra Dần, Mẹo Mộc; 4-9 ở bên hữu mà sinh ra Thân, Dậu Kim; 5-10 ở
giửa mà sinh ra Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Thổ. Đó là Thập nhị Địa Chi.
Bậc Thánh Hiền nhân Bát Quái mà suy ra
thiên thời, dùng Địa Chi để phối với Thiên Can: Là lấy Thiên nhất sinh Thuỷ, mà
Khảm là ngôi vị của Thuỷ, nên ở chính Bắc; Quý được cái thuỷ nhu của Địa Huyệt
nên Quý ở sau Tý. Thuỷ không ngừng thì chảy đi mà không trở lại, nên phải lấy
Thổ để ngăn lại, thì mới có thể sinh vật. Sửu là đá có tính nhu nên Sửu ở sau
Quý. Cấn là Sơn và là Thổ cương, nên Cấn ở sau Sửu mà ở phương Đông Bắc, đó là
thay Chấn để sinh trưởng vạn vật. Thổ hợp lại mà hoá ra khí để sinh Mộc. Dần là
tạp Mộc nên Dần ở sau Cấn. Giáp được Tam Dương Mộc chí cương của Thiên nên ở
sau Dần. Chấn là ngôi của Mộc, vậy Mẹo ở chính Đông. Ất được Âm Khí của Địa bát
là Mộc nhu nên ở sau Mẹo. Mộc phải cần Thổ mới tươi tốt, Thìn là ngôi Chính khí
của Thổ nên Thìn ở sau Ất là Mộc tạp Dương. Mộc không vượng thì không thể sinh
Hoả, nên Tốn là Vượng Mộc mà ở sau Thìn là Vượng Thổ. Mà để được Vượng Thổ thì
cần phải có Hoả sinh. Tị là Sơ khí của Hoả nên Tị ở sau Tốn. Bính được Hoả của
Thiên thất là Dương cương nên Bính ở sau Tị. Ly là vị chính của Hoả nên ở Chính
Nam liền sau Bính. Đinh được Âm khí của Địa nhị là Hoả nhu nên Đinh ở sau Ngọ.
Hoả Vượng hẳn klà ngưng lại để sinh Thổ nên Mùi ở sau Đinh. Khôn là Chính Khí
của Thổ nên Khôn ở sau Mùi. Thổ vượng tất sinh Kim, Thân là Sơ khí của Kim nên
Thân ở sau Khôn. Canh được Dương khí của Thiêncửu Dương Kim, nên Canh ở sau
Thân. Đoài là vị trí của Kim, nên Dậu ở Chính Tây. Tân được Âm Khí của của Địa
tứ là nhu Kim, nên Tân ở sau Dậu. Kim không Thổ thì không thành Kim. Tuất là
phương chính của Thổ nên Tuất ở sau Tân. Kim là tạp khí trộn lẫn, nếu Kim không
thịnh thì không thể hoá được, nên Kiền là Vượng Kim mà ở sau Tuất, cực vượng mà
hoá thành, nên sở dĩ sinh Thuỷ là vì vậy. Hợi là Sơ khí của Thuỷ nên Hợi ở sau
Kiền> Nhâm được Dương Khí của Thiên nhất là Thuỷ cương nên Nhâm ở sau Hợi.
Do đó mà 24 vị có định cục vậy. Tôi thường đọc KInh Dịch, nên biết sự chuyển
của Trời đất, và thứ tự độ hành của các vì tinh tú không sai. Người ta nói:
" Kiền ngộ nạp Tốn quan Nguyệt Quật", "Khôn phùng Chấn dĩ Kiền
Thiên Căn". Nguyệt Quật là hang của mặt trăng, Thiên Căn là gốc rễ của
Trời. Xem đó có thể thấy, Dương sinh ở Ngọ, Âm sinh ở Tý, Âm Dương ở đúng chỗ
thì bốn mùa lưu hành muôn vật sinh trưởng sáng tỏ vậy.
Phương Bắc khí cương nên có vẻ nghiêm khắc, dữ dội; phương Nam nhu nên có tính
ôn hoà. Vì vậy đất ở phương Nam lấy oa, kiềm, nhũ làm bằng cớ; thế đất ở phương
Bắc thỉ lấy gò đống đột cao hậu làm chuẩn đích.
Đây là Địa lý gia luận về Sơn khắc, vong
mệnh, kỵ Nạp Âm chính là thế vậy. Chính Ngũ Hành xuất ở Hà Đồ: 1-6 ở dưới sinh
ra Hợi Tý Thuỷ. Thiên nhất (1) sinh ra Nhâm Thuỷ, Địa lục (6) hoàn thành ở Quý.
Thiên 1 sinh Khảm Thuỷ mà có 6 hoàn thành ở Kiền. Đây chỉ là một cục, các cục
khác cũng thế sẽ suy ra.
TẦNG THỨ CHÍN
SỬ DỤNG VỀ KIẾP SÁT
BÀI QUYẾT CA
Tốn, Mùi, Thân sơn Quý kiếp tàng
Tân, Tuất cư Sửu; Canh Mã hương
Chấn, Cấn phùng Đinh; Giáp kiến Bính
Nhâm Hầu; Kiền Thố; Bính Tân phương.
Khảm, Quý phùng Xà; Tị, Ngọ Kê.
Đinh, Dậu phùng Dần; Khôn, Hợi Ất
Long, Hổ ngộ Dương; Ất Hầu hề
Tê Ngưu Long vị vĩnh bất lập.
Giải nghĩa: Như Tốn, Mùi, Thân ba sơn
thì Kiếp Sát ở Quý. Tân, Tuất hai sơn Kiếp Sát ở Sửu. Canh Kiếp Sát ở Ngọ.
Chấn, Cấn hai sơn thì Kiếp Sát ở Đinh. Giáp thì Kiếp Sát ở Bính. Nhâm Kiếp Sát
ở Thân. Kiền Kiếp Sát ở Mẹo. Bính Kiếp Sát ở Tân. Khảm, Quý hai sơn Kiếp Sát ở
Tị, Tị, Ngọ hai sơn thì Kiếp Sát ở Dậu. Định, Dậu hai sơn thì Kiếp Sát ở Dần.
Khôn, Hợi hai sơn thì Kiếp Sát ở Ất. Thìn, Dần hai sơn Kiếp Sát tại Mùi. Ất
Kiếp Sát ở Thân. Sửu Kiếp Sát ở Thìn.
Tóm lại là phương Kiếp Sát chỉ lấy Toạ
sơn mà bàn về tiêu, nạp chứ Hướng sơn không liên quan gì đến. Chỉ kỵ có một sơn
thôi, như ngồi ở Tốn sơn hay Mùi sơn, hay Thân sơn, mà phương Quý có sơn sa
cao, mà nghiêng ngả, lệch vẹo, hoặc vỡ lỡ, hoặc núi đá gồ ghề, lỏm chỏm thì rất
kỵ. Nếu ngay ngắn, tròn đẹp thì không sợ kỵ. Các sơn khác cũng vậy.
Đây chỉ thấy chép ở Kim tự Bàn, các sách
chưa thấy chép, nên nhiều người không biết. Tôi được thầy truyền riêng cho,
nhưng không nỡ giấu kín, e có hại cho đời sau, nên viết ra để phổ biến cho mọi
người cùng biết.
TẦNG THỨ 10
XUYÊN SƠN 72 LONG
Người xưa dùng 72 long xuyên sơn, 60
long thấu địa. Xuyên sơn là: Xét định cái long dẫn vào huyệt, nó xuyên đúng chữ
nào thuộc con gì của vòng Giáp Tý gọi là địa Kỷ chuyên luận về lai long ở giữa
chỗ long quá Giáp mà chiếu la bàn, nếu không có Giáp, thì lấy ở chỗ long nhập
thủ Giáp xuống ở sai huyệt là chủ của huyệt tinh, tức là cho long nó khởi lên
rồi, phục xuống thắt nhỏ lại như cuống họng, chữ gọi là “thúc nhân xứ”. Cứ chỗ
long tích phân thủy mà định châm bàn, xem là long gì, để dùng nạp âm mà đón
sinh khắc; như Tý long là thủy, trong khoảng chữ Tý lớn ấy có 5 chữ Tý nhỏ, hễ
được chữ Bính Tý là thủy long, Canh Tý là thổ long, thì đều là vượng khí. Giáp
Tý kim long là bại long khí, Mậu Tý hỏa long là tử khí, Nhâm Tý mộc long là
sinh khí. Vì vậy phải coi mạch lại, xem long mạch lại ở phương nào, thuộc can
gì. Vậy lấy 72 long có xấu, có tốt đã phân biệt do Tiên Hiền truyền thụ. Tóm
lại là ở trong địa bàn mỗi chữ chi ở dưới có 5 Tý long, thành ra 60 Giáp Tý; là
số của 12 địa chi của địa bàn có 60, cộng với tứ duy và bát can là 12 vị, mỗi
chữ can và chữ duy ở dưới, đều có ghi thành 12 chữ đỏ, thấu thành 72 long xuyên
sơn, khi dùng những long này cần phải tránh cô hư, không vong, sai thác, Quý
Giáp, không lẫn nhau là tốt; lại cần phải đón cái sinh khí của vượng; tướng 1
đường mạch rót suốt đến chỗ kết huyệt thì tốt. 72 long đã phân rõ cô hư, diêu
sát và vượng tướng, đều căn cứ vào 8 quẻ nạp Giáp, 9x6 xung hợp của can mà ra.
Như gặp Giáp Nhâm là dương, mà cô ra ở nạp Giáp của quẻ Kiền, lấy 6 hào thuộc
dương trừ đi 1 hào giữa, còn 2 hào trên dưới cô dương, là 2 nam vô nữ tướng
phối cớ vậy. Nếu gặp ất, Quý là hư xuất ở nạp Giáp của quẻ Kiền, là lấy 6 hào
thuân âm trung hư, không có dương câu là 2 nữ, không có nam phối nạp cớ vậy.
Nếu gặp Bính, Canh là dương, mà vượng ra ở nạp Giáp của quẻ Cấn, Chấn, 6 hào ở
trong 2 quẻ, trừ hào giữa còn trên dưới 2 hào, có 1 dương phối với 1 âm, là âm
dương xung hào mà vượng vậy. Nếu gặp Đinh, Tân là âm mà cùng ra ở Tốn, đoài nạp
Giáp, 6 hào trong 2 quẻ này, trừ hào giữa, còn trên dưới là 1 hào âm, 1 hào
dương, là âm dương xung hợp mà là tướng. Nếu gặp Mậu Kỷ là Quý Giáp, không vong
thì kiên nganh mà khí bất nhập vậy. Xuất ở nạp Giáp của Khảm Ly, trừ hào giữa
là thể hiện của quẻ, còn trên dưới đều tuyệt nhất, bất giao, nên là Quý Giáp
không vong. Dụng đó thì rất nên tránh Giáp ất là cô hư. Như 1 tuần Giáp Tý đến
ất Hợi. Đó là 12 long khí mạch trung chính, lấy Bính, Đinh là vượng. Lấy Bính
Tý 1 tuần, đến Đinh Hợi, đó là khí mạch trung chính của 12 long, tránh Mậu Tý
là sát diệu. Lấy Mậu Tý 1 tuần đến Kỷ hợp, đó là khí mạch ở trong 12 long.
Canh, Tân là tướng, lấy Canh Tý 1 tuần đến Tân Hợi, đó là khí mạch ở trong 12
long. Nhâm Quý là hư, lấy Nhâm 1 tuần đến Quý Hợi, đó là khí mạch thoái ở 12
long.
Cái vượng tướng ấy là 4 quẻ được tiên
thiên: Cấn, Chấn, Tốn, Đoài ở 4 phương góc là nơi dưỡng sinh mà thành quẻ, thì
4 quẻ, 6 hào đều là âm dương xung hợp. Nhiều phối với Bính, Đinh, Canh, Tân là
vượng tướng cớ vậy. Nếu gặp 4 quẻ tiên thiên: Kiền, Khôn, Khảm, Ly ở nơi tứ
chính là khoảng hư, nguy thì 4 quẻ, 6 hào đều là thuần nhất bất giao lại phối
với
Giáp, Ất, Nhâm, Quý, Mậu, Kỷ là quý
Giáp, sát diệu. Như vậy bảo là 9 và 6 không xung hợp tất là nhân, tài hao tán
mà bại tuyệt, nên khi sử dụng phải suy xét cẩn thận. Còn như Bính long lai mạch
thì phải tựa vào chân khí của Bính long xuyên tới; đằng trước đối Nhâm; Ngọ,
gác giây trên thẳng xuống chỗ kết huyệt mới là chuẩn đích, đúng long xuyên sơn.
Dần long lai mạch là địa chi, thì tựa
vào Bính Tý một vòng đến chữ Dần gặp Mậu Dần khí xuyên sơn là khí vượng. Nếu
Nhâm Dần long lai mạch nhập thủ, thì từ Canh Tý 1 tuần, đến số Dần là khí mạch
tướng. Tôi được thầy truyền riêng rằng: lên núi xét long hành phải nhận rõ chỗ
khí vào huyệt, đều căn cứ lấy 72 long làm chủ. Muốn xét nghiệm những cái họa
phúc về dĩ vãng và cái lành, dữ về tương lai của người ta thì phải ở nơi chu
tinh đó làm căn cứ không được sai lầm 1 hào Ly.
Người sau muốn kinh nghiệm điều đó, thì
cần phải biết cái long khí của 1 vòng Giáp Tý và khí cộ, hạ huyệt vào đó thì bị
bại tuyệt. Cái long của 1 vòng Bính Tý là khí vượng, đặt huyệt vào thì phát phú
quý. Đây chỉ nêu lên 2 vòng làm ví dụ, các vòng khác cũng vậy. 72 long hợp với
64 quẻ, đều bắt đầu từ hào biến trước hết của 8 quẻ. Hỗn thiên hạp Giáp, quyết
định năm phát phúc và tuổi mệnh, thì bắt đầu từ hạ hào (nét dưới) mà biến lên,
từ nét biến đầu tiên đến nét 2, 3, 4, 5 còn nét thứ 6 không biến mà trở xuống
biến nét thứ 4 gọi là quẻ du hồn. Sau khi trở xuống đem cả 3 hào trong quẻ biến
hết thảy, để trở về bản quái (quẻ gốc) nên gọi là quẻ quy hồn. Nhà địa lý lấy 1
đoạn long nhập thử làm bản quái (quẻ gốc) để xét xem những sơn sa ở đằng trước,
đằng sau, bên tả, bên hữu mà định đoán phát phúc về niên mệnh đã kể trên.
Như: Mệnh là quẻ Khảm lần thứ nhất biến
hào đầu thành ra quẻ Đoài; gặp Đinh Can; biến lần hai thành quẻ Chấn gặp Canh
can, thì đều phát phúc; biến lần ba thành quẻ Ly gặp Kỷ Nhâm can; so sánh thì
Canh Đinh mạnh hơn; so với Mậu Quý quẻ gốc thì bằng nhau; biến lần thứ 4 thì
thành ra quẻ du hồn, là ất can thì sức nhẹ hơn. Giáp, Tân, Bính 3 quẻ này thì 3
năm Nhâm không phát phúc vì quẻ Khảm không có 3 quẻ Kiền, Tốn, Cấn nên bảo
rằng:
“Xuất quái vô quan chức”, muốn biết rõ
nghĩa cần phải đọc cuốn Duyên đàn tử có chép đủ cả 64 quẻ.
TẦNG THỨ MƯỜI MỘT
XUYÊN SƠN BẢN QUÁI, HỢP CHU DỊCH VI THIÊN THỐNG.
Hoặc có người hỏi về nguyên tắc và quái lệ của ba bàn: Bản quái, nội quái và
ngoại quái. Đó cũng chỉ là một mối của Lý Khí mà ra. Lấy 60 Giáp Tý của Thấu
Địa phối hợp với Khảm làm Thuỷ quái (quẻ Thuỷ) 120 phân kim. Giáp Tý phối với
Sơn thành Sơn Lôi Di quái. Lấy xuyên sơn 72 Long Giáp Tý phối hợp với Thuỷ
thành Thuỷ Địa Tỷ quái. Quẻ phối hợp thì lấy Thấu Địa làm Nội quái, xuyên sơn
làm Bản quái, phân kim làm Ngoại quái. Ba quẻ này gọi là:
Quẻ Liên Sơn vì nhà Hạ theo Nhân thống,
trên Kinh Dịch lấy Cấn làm đầu. Cấn là núi, liên liên vô tận.
Quẻ Quy Tàng vì nhà Ân theo Địa thồng nên Kinh Dịch lấy Khôn làm đâuù. Khôn là
đất, vạn vật đều quy tàng trong đất.
Quẻ Chu Dịch vì nhà Chu theo Thiên thống
nên Kinh Dịch lấy Kiền làm đầu. Kiền là trời, Đạo Trời vận chuyển, lưu hành vô
cùng, biến hoá không ngừng vậy.
Ba quẻ này rất là tinh vi, nếu không
phải là những thầy thông minh thì không thể nghiên cứu được những bí ẩn. Tôi
được thầy dạy tâm truyền riêng cho nên biết được chút ít mà viết ra đây, muốn
cho mọi người cùng biết.
Ba quẻ Dịch trên là sự phân phối của 60
Long, nên lấy dùng được rất là hay! Chủ yếu vào khí vận của Thiên Địa. Gọi là
Địa Mạch: là khí đi ở dưới đất, hình chiếu lên trời, vì vậy sinh khí của trời
đều ứng vào các quẻ, tức là thông cả luật lữ Thiên Địa khí cảm mà ứng. Đây
chuyên bàn về tuyển trạch (lựa chọn đất tốt), lấy các hào của quẻ hỗn thiên để
hỗ trợ cho Lai Long và Toạ Huyệt thì được vẹn toàn, đều căn cứ vào Thiên tinh,
Địa diệu làm chủ chốt.
Học về Địa lý có người chuyên dụng về
Loan đâyù, có người chuyên dụng về Thiên tinh, chia ra phe phái phân biệt, mỗi
môn làm một cách. Nhưng vì họ không biết rằng: Loan đầu là Thể, Thiên tinh là
Dụng. Thể và Dụng đều liên quan với nhau làm cái trong và cái ngoài vậy. Tinh
tú trên trời chia ra khắp núi sông, khí lưu hành dưới đất, phản ứng lên trời,
nói rằng "Địa thừa Thiên khí" mà lưu hành, chính do đây mà ra vậy.
Ông Lý Thuần Phong nói: Từ Đông Nam tới
Tây Bắc của Thiên thể có đường kính là 357.000 dặm, mỗi phương là 89.250 dặm.
Từ đất lên trời là 84.000 dặm. Vì vậy người ta nói: Lập Hướng mà sai một li là
sai đi ngàn dặm, đều là vì thế. Đất có bốn thể, Khí có 8 phương. Bốn thể là
Dần, Thân, Tị, Hợi, là khí Ngũ Hành mới sinh. Vậy nên Dần là đầu của phương
Đông, Tị là đầu của phương Nam, Thân là đầu của phương Tây, Hợi là đầu của
phương Bắc. Khí của bốn phương Sinh đó (Trường Sinh) đi ở trong đất mà vận lên
trời. Ở trên trời thì bàn về thời tiết, ở dưới đất thì bàn về hình thể. Lấy
thời tiết để xem hình thể. Lấy hình thể để nghiệm về khí tiết. Vì vậy nên khí
thịnh, khí suycó khi đầy khi rổng. Sơn của bốn thể sinh ra Long ở 8 phương. Bốn
thể làm đầu mối cho Ngũ Hành hoá sinh, 8 phương làm tông tích chỗ ngũ khí lui
tới. Bởi vậy nên Lý Khí của xuyên sơn tức là phải có được Loan Đầu, thừa cái
Sinh khí đó dẫn vào Huyệt, thì tự khắc có Phúc đưa tới.
TẦNG THỨ MƯỜI HAI
TRUNG CHÂM NHÂN BÀN
24 sơn của tầng Trung Châm là Nhân bàn, so sánh với Địa bàn có khác chút ít. Đó
là do nguyên lý: Thiên Đạo thì mạnh mẽ, Địa Đạo thì thuận an, Nhân Đạo thì hoà
bình. Có Trời, Đất trước rồi mới đến Người, nên Nhân bàn ở khoảng giửa của
Thiên bàn và Địa bàn.
Lấy một vị Tý Ngọ làm thí dụ: Tý Ngọ ở
Thiên bàn thì hai bên rìa là Bính Tý, Nhâm Tý khép lại, giáp liền nên gọi là
Phùng Châm. Ở Địa Bàn thì Tý Ngọ ngay ở giửa, nên gọi là Chính Châm, ở Nhân bàn
thì Tý Ngọ ở giửa khoảng Tý, Quý, Ngọ, Đinh nên gọi là Trung châm. Người xưa
dụng ra Tam Tài để sử dụng rất rộng rãi. Phương pháp lấy Nhân bàn ở giửa, trên
liên quan với Thiên tinh tú độ, khí vận tiến, thoái; dưới thì liên quan với núi
sông, phân giới hạn địa mạch thịnh, suy, bĩ, thái, cho nên lấy Nhân bàn làm chủ
tể, tác dụng cả Thiên Địa hai bàn. Tức là người linh thiêng hơn, mà đứng đầu muôn
vật, cùng với Trời, Đất thành ra Tam Tài. Vậy có chữ " Nhân lực thắng
Thiên" nên mới dùng Nhân bàn hợp với Địa bàn để tham dụng thì công quả mới
vẹn toàn. Xưa Thái Tố Tiên sư xét Long. lấy đó dùng để Tiêu Sa. Dương Công thì
dùng để Nạp Thuỷ, đúng hợp với Thuỷ pháp của ông Tư Mã đầu đà là "phóng
khứ Hoàng Tuyền, vị chi xuất sát": Xẻ lạch cho nước Hoàng Tuyền chảy đi,
gọi là Xuất Sát. Gọi là: Quý Nhân, Lộc-Mã thượng ngự giai. Nên có bài ca rằng:
Quý Nhân lâm hợp Liên Châu Thuỷ. Cách nhập tương sinh Long liễu tiến. Kỳ quý
Tham Lang tinh Lộc Mã, Tam hợp Liên Châu quý vô ngôn. Tân nhập Kiền cung, bách
vạn trang. Quý quy Cấn vị, phát văn phương. Ất Hướng Tốn lưu, thanh phú quý.
Đinh tòng Khôn khứ, vạn tư sương. Nghĩa là: Ở phương Quý Nhân được ba cái nước
hợp với nhau gọi là Liên Châu Thuỷ, cách xa không hợp nhau liền, mà chảy vào
được Minh Đường mới hiệp nhau được là tương sinh với Long, thời giàu to, tiền
để đến mục nát. Phát quý là do cái nước Tham Lang và Lộc Mã cùng hợp, nếu cả
Quý Nhân, Lộc, Mã là Tam hợp Liên Châu thì quý lắm, không thể đánh giá nổi. Ất,
Tân, Đinh, Quý là bốn Âm Can, ở bốn vị trí Mộ khố của bốn cục Kim, Mộc, Thuỷ,
Hoả. Kiền, Khôn, Cấn, Tốn là bốn vị trí Tuyệt của bốn cục. Nếu Thuỷ tiêu đi,
được hợp cách như bốn câu thi ca, là đón phát phú quý đó. Là hợp Thuỷ pháp. Lấy
một câu thứ nhất làm thí dụ: Tân là phương Mộ của Hoả cục, Kiền là vị Tuyệt của
Hoả cục, thấy nước ở Minh Đường trước Huyệt chảy đi qua phương Tân Tuất, ra
phương Kiền là Thuỷ khẩu phóng đi, đó là Tân nhập Kiền cung, bách vạn trang là
giàu có trăm vạn trang điền, viên thổ. Ba cục kia cũng như vậy suy ra, có cách
gì thì ứng nghiệm cách ấy, chính là hợp với Nhân bàn này. Ông Lại Thái Tố dùng
bàn này để Tiêu Sa, lấy làm yếu quyết. Sa tuy tại Địa, nhưng thực ra quan hệ
tại Thiên. Tại sao mà biết vậy? Xưa Thánh Nhân nói rằng: Làm việc Chính thì
phải lấy người có Đức lớn. Ví như ngôi Bắc Thần ở chỗ nào, thì mọi vì sao khác
phải triều củng vào đó, tức là sao Bắc Đẩu. Chòm sao Bắc Đẩu có chín ngôi, gọi
là Cửu Tinh. Sao Bắc Thần ở giửa làm tiêu chuẩn chủ chốt kiện cục, để vận động
bốn phương 28 sao khác rải bày ở vòng ngoài, khắp cả ngang, dọc trong bầu trời.
Theo phép Địa lý của nhà Kham Dư, thì ngôi Bắc Thần là Huyệt trường, các Long
là Cửu Tinh, Sa- Thuỷ là Nhị Thập Bát Tú. Dương Quân Tùng thì dùng Cửu tinh để
xem Long, Lại Thái Tố thì dùng nhị thập bát tú để xem Sa- Thuỷ, cái lý bảo tại
Thiên chính là tại cái này vậy. Đời xưa Dương Công, Lại Công, hai vị này về
phép bát sa cùng là một. Nhưng về sau bí ẩn không truyền lại trong kinh sách,
mà chỉ truyền khẩu cho nhau thuộc lòng thôi, nói rằng nếu truyền lại thì sợ
tiết lộ, bị tội với Thiên Địa quỷ thần trách phạt. Nên đời nay vẫn có nhiều
người không dám tiết lộ. Nhưng Thánh Hiền có nói: Đạo lý không thể bị mai một,
nếu bí ẩn thì hậu thế lấy đâu mà biết. Thánh Nhân còn lo là thất truyền, thì
tôi đâu dám giử bí ẩn lại. Vậy tôi cam tâm xin chịu tội mà đem phép bát sa của
hai ông Dương Công, Lại Công ra mà chú thích rõ ràng để hậu thế mọi người học
lấy, để làm việc phúc đức giúp cho nhân loại (theo thiển ý của NCD, thực ra
Tiền Hiền không phải e sợ việc đó, mà chỉ sợ các kiến thức này truyền vào tay
kẻ ác, mà đời thường những kẻ đó thì đầy dẫy).
Bài ca về Sa pháp nói rằng: Kiền, Khôn,
Cấn, Tốn thị Mộc Hướng (là thuộc Mộc), đấy là một câu thuộc về 28 sao, thuộc về
Thất Chính, Ngũ Hành bốn sao này thuộc Mộc. Kiền thuộc vị trí sao Khuê tên gọi
là Mộc Lang, Khôn thuộc sao Tĩnh tên gọi là Mộc ngan, Tốn thì thuộc sao Giác
tên gọi là Mộc giảo, Cấn thuộc sao Đẩu tên gọi là Mộc giải. Tiêu sa thì phải lấy
Mộc mà luận.
Dần, Thân, Tị, Hợi thì thuộc Thuỷ: Dần thì là sao Cơ tên là Thuỷ Báo, Thân là
sao sâm tên gọi là Thuỷ Viên, Tị là sao Chẩn tên gọi là Thuỷ Dẫn, Hợi thuộc sao
Bích tên gọi là Thuỷ Du. Tiêu Sa thì phải lấy Thuỷ mà luận.
Giáp, Canh, Bính, Nhâm thì thuộc Hoả,
Giáp thuộc sao Vỹ tên gọi là Hoả Hổ, Canh thuộc sao Chuỷ tên gọi là Hoà Hầu,
Bính thuộc sao Dực tên gọi là Hào xà, Nhâm thuộc sao Thất tên gọi là Hoả Chư.
Bốn sao này thuộc Hoả phải lấy Hoả mà Tiêu Sa.
Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu bốn sao này cũng thuộc
Hoả, nên theo như sao Hoả mà dùng để Tiêu Sa. Tý thuộc sao Hư tên gọi là Nhật
Thử và sao Nguy tên gọi là Nguyệt Yến, Ngọ thuộc sao Tinh tên gọi là Nhật Mã và
sao Trương tên gọi là Nguyệt Lộc, Mẹo thuộc sao Phòng tên gọi là Nhật Thố và
sao Tâm tên gọi là Nguyệt Hồ, Dậu thuộc sao Mạo tên gọi là Nhật Kê và sao Tất
tên gọi là Nguyệt Ô. Tại sao Nhật, Nguyệt lại bảo là Hoả? Vì Nhật là Quân Hoả,
Nguyệt là Tướng Hoả. Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu ở bốn vị chính, vì vậy lấy Nhật, Nguyệt
cùng một cung sánh với đôi sao, chỉ bốn ngôi chính là có hai sao, còn ngoài ra
đều có một sao phối thôi.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì thuộc Kim cục,
bốn sơn đều là Kim. Thìn thuộc sao Cang tên gọi là Kim Long, Tuất thuộc sao Lâu
tên gọi là Kim Cẩu, Sửu thuộc sao Ngưu tên gọi là Kim Ngưu, Mùi tthuộc sao Quỷ
tên gọi là Kim Dương. Bốn sao này thuộc Kim, nên nhớ mà dùng Tiêu Sa phải lấy
Kim mà xét.
Ất, Tân, Đinh, Quý Thổ tương thương, là bảo bốn sơn này thuộc về Thổ. Ất thuộc
sao Đê tên gọi là Thổ Lạc, Tân thuộc sao Vỹ tên gọi là Thổ Trĩ, Đinh thuộc sao
Liễu tên gọi là Thổ Chướng, Quý thuộc sao Nữ tên gọi là Thổ Bức. Bốn sao này là
Thổ nên lấy theo Thổ mà Tiêu Sa.
Còn
năm loại khác đều là Sinh, Vượng, Sát, Tiết, Nô. Có bài thơ ca:
Sát Tiết Nô hề, Sinh dữ Vượng
Sinh ngã thực thần cư lương bảng
Tỵ hoà nhân tài phát khoa trường
Ngã khắc thị tài, vi trừu nô
Khắc ngã thất sát, tối nan đương
Tiết ngã văn chương cùng đáo đế
Nữ biến công danh, hảo hựu cường.
Sát là khắc sát; tiết là chảy, rút, mất
đi; nô là làm nô bộc; sinh là sinh ra lợi ích; vượng là thịnh vượng.
Giải nghĩa theo nguyên văn bài thi ca
như sau:
Năm loại Sát, Tiết, Nô, Sinh và Vượng.
Sinh vào mình gọi là Thực Thần, tốt lắm!
Thì phát phú quý, chiếm bằng đậu cao.
Tỷ hoà là bằng như nhau, phát người và
của cải, học hay, đỗ đạt cao.
Mình khắc nó thì phát tài, gọi là Nô.
Nó khắc mình là sát (giết mình) tức Thất
sát.
Mình sinh nó là Tiết, thì cũng có văn
chương, nhưng nghèo cũng đến đấy, về bên giới nữ tức con gái thì có công danh,
giàu mạnh.
Phép này lấy tọa sơn làm chủ: Tọa Kiền
sơn thuộc mộc, lấy Tốn, Cấn, Khôn sa tức là tỵ hòa thì tốt. Thấy Sửu, Mùi,
Thìn, Tuất cùng có sơn sa là khắc ngã tối nan dương, là sát ta. Nếu thấy Giáp,
Canh, Nhâm, Bính, Tý, Ngọ, Mão, Dậu có sơn sa, tức là “Tiết ngã văn chương cùng
đáo đế”. Thấy Ất, Tân, Đinh, Quý sơn tức là ngã khắc “tài thân vi thừa nô”.
Thấy Dần, Thân, Tỵ, Hợi sa tức “sinh ngã vi thực thân”. Các sơn khác cũng vậy
sẽ suy ra mà phát biểu rõ. Khi đăng sơn tự thấy cái phép hay; theo phép xem các
sơn sa đằng trước, phía sau, bên tả, bên hữu cần yếu là cái cung vị có sơn sa
ứng đối diện tiền. Hễ sơn ứng gần thì phát vào người chủ mau chóng, còn ở xa
thì ứng chậm trễ. Ông Trương Cửu Nghi nói: Sa nhược ly huyệt tam lưỡng trượng,
lưu niên tức đáo sản anh hào. Nghĩa là: Sa cách huyệt độ 2,3 trượng hạn lưu
niên đến đó sẽ sinh ra người hào kiệt. Lại nói: Tốt nhất là biết cái sa ở ngay
trước mặt huyệt. Quyết đoán họa phúc của người ta thì không sai.
Phép này chẳng
phải riêng tôi bàn đặt hay là một môn phái nào, mà đây là ở bộ sách Duyên đàn
tử ra. Học giả nào mà được hiểu tường tận 3 quyển này sẽ biết rõ trong đó có
phân phòng, phân vùng vị của sa cát, hung tự thấy công hiệu vô cùng. Nếu biết
được 4 quyển thì xét long trở lên được 8,9 cung, quyết định được sự giàu nghèo,
rất hiệu nghiệm. Nếu biết được quyển thứ 5 thì luận định được các ngôi đất cũ
phát phúc, hiểu rõ sa thủy cung vị, trăm điều đúng cả trăm không sai. Nếu tường
được 1,2 quyển thì biết về thủy pháp, phá cục, hợp cục, tị hoàng tuyền, sát
diệu, trong đó xét tường tận tự nhiên trong tâm trí khác sáng suốt nhận SA
THIÊN: hình mạo xấu hay đẹp cũng giống như núi sông xấu hay đẹp. Vì vậy, núi
Trung nhạc linh ứng mà sinh ra Đức Khổng Tử.
Ông Ngô Cảnh
Long nói: Đất trông phúc hậu thì nhiều người sống lâu, đất tú lệ sinh ra nhiều
người thanh nhã; đất thấp sình lầy sinh ra người u trọc; đất cao khô khan sinh
ra người nóng nảy; đất tán loạn sinh ra người du đảng; đất có nhiều núi nhọn
sinh ra nhiều người bị sát thương và hung ác; đất ương ngạnh sinh ra người
bướng bỉnh; đất bằng phẳng sinh ra người trung tín.
Ông Dương Quân
Tùng nói: Núi mập mạp thì người no ấm; núi gầy gò thì người đói rách; núi xinh
đẹp thì sinh người đẹp đẽ; núi thô trọc thì sinh người xấu xí; núi đầy đặn thì
sinh người vui tươi; núi vỡ lở thì sinh người đau buồn; sơn quay về thì người đoàn
tụ; sơn tẩu khứ thì người ly tán; sơn duỗi trải buông rộng thì người thọ khảo;
sơn co rút hẹp lại thì người đê tiện; sơn quang minh thì sinh người thông min;
sơn u ám sinh ra người ngu dốt; sơn quay mặt vào thì người hòa thuận nhau; sơn
quay lưng lại thì bị người phản bội, khí trá.
Ông Tư Mã Đầu Đà
nói: Lấy đoan chính vuông vắn thì biết là trung lương, thấy nghiêng ngã, lệch
lạc thì biết siểm nịnh, thấp kém thì sinh ra người hạ tiện; nhu loạn thì sinh
dâm ô; thấy sơn sa đơn bạc thì nghèo hèn; tú mỹ thì biết là nhân từ; uy vũ thì
đấu tranh quả quyết. Nhận xét nguồn gốc của đại giang thì biết xuất thân xa hay
gần; xem cả ngoại thành, nội cục, thì biết lực lượng rộng hay hẹp. Mạnh xuất
thì có chỗ thiên thẹo, có chỗ trung chính; phát triển thì có chỗ lớn, chỗ nhỏ,
người ta bảo: Sa quản về nhân đinh; hễ sa chân chính thì nhân đinh tương bình,
vậy bảo nhân bàn thu sa đó. Lại nói: Sa không ngấc đầu lên được là sa yếu ớt
bất lực. Thủy không quanh co, ôm vào là thủy vô tình làm ngơ, ngoảnh mặt đi; sa
ở bên ngoài không quý bằng sa ở bên trong; thủy ở ngoài không bằng thủy ở gần
(nội cục)
LẠI CÔNG BÁT SA CA (theo nguyên văn dịch nghĩa)
Tiêu sa xưa nay có 5 loại là: Nô, vượng, sát, tiết, sinh
- Ngoài nó khắc vào ta là sát
- Ta sinh ra nó là tiết (tiết khí đi)
- Vượng thân tức là ta thấy ta (cùng
loại)
- Nó sinh lại ta là thực thân; thực thân
thì phát khoa giáp, sinh nhân đinh
- Vượng thì phát tài lộc, nhiều con cháu
- Sinh không ở chính hướng, chỉ như
vượng
-
Hai vượng thì hơn 1 sinh
- Sát lại thì tai họa
- Tiết đi thì dần dần hao mòn
- Ta khắc vào nó, là nô thì phát tài
bạch và làm quan được lộc, lại hòa bình
- Những kiểu đất lớn thường nhiều có
sát, vì hai khoảng công vị đó không đều nhau
- Nếu long khí thịnh vượng thì sát sẽ
yếu đi
- Thiểm mạch và thoát mạch thì sát rất
linh, sợ lắm
- Long yếu sa mạnh, tiết vượng tốt thì
con gái lấy chồng nhà danh giá, hào hoa.
Vì là sinh, là vượng thì quý tại nội,
vượng tốt, kiêm cả tiết tại ngoại môn. Đây là bí quyết chân truyền
của Lại Thái Tố; chỉ có phép ai tinh rất
linh nghiệm.
PHÉP HUYỀN DIỆU VỀ TIÊU SA
QUYẾT CA
Kiền, Khôn, Cấn, Tốn thị mộc hướng
Dần, Thân, Tỵ, Hợi thủy thân đương
Giáp, Canh, Nhâm, Bính chân thị hỏa
Tý, Ngọ, Mão, Dậu hỏa y sương
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi kim vị cục
Ất, Tân, Đinh, Quý thổ trương trường.
Sát tiết nô hề
Sinh ngã thực thân, cư lưỡng bảng
Tỵ hòa nhân tài, phát khoa trương
Ngã khắc thị tài, vi trừu nô
Khắc ngã thất sát, tối nan dương
Tiết ngã văn chương cùng đáo đế
Nữ biên công danh, hảo hựu cường.
Cũng như bài ca trước đã giải nghĩa rồi.
Nói về thiên, thế thì có thất chính để giữ nguyên hóa (đầu gốc tạo hóa, tức mặt
trời, mặt trăng va 5 vì sao, có tứ viên để chấn 4 phương: Tử vi, Thiên thị,
Thái vi,
Thiên vi; có 28 sao rải rác khắp vòng
trời)
Thanh long có 7 sao: Giác, Cang, Đê,
Phòng, Tâm, Vỹ, Cơ
Chu tước có 7 sao: Tĩnh, Quỷ, Liễu,
Tinh, Trương, Dực, Chẩn
Bạch hổ có 7 sao: Khuê, Lâu, Vị, Mão,
Tất, Chủy, Sâm
Huyền vũ có 7 sao: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư,
Nguy, Thất, Bích
Tứ viên tức là tứ tượng; thất chính tức
là 7 vị tinh tú, căn cứ vào ngũ hành âm dương để tiêu sa; then chốt ở ngôi bắc
đẩu mà phân biệt ra 4 phương là 28 sao, vậy nên:
- Các sao: Phòng, Hư, Mão, Tinh thì ứng
vào mặt trời;
- Còn các sao: Tâm, Nguy, Tất, Trương
thì ứng vào mặt trăng;
- Các sao: Giác, Đấu, Khuê, Tỉnh thì ứng
vào các năm;
- Các sao: Vỹ, Thất, Chủy, Dực thì ứng
vào sao huỳnh hoặc;
- Các sao: Cang, Ngưu, Lâu, Quỷ thì ứng
vào sao thái bạch;
- Các sao: Cơ, Bích, Sâm, Chấn thì ứng
vào giờ;
- Các sao: Đế, Liễu, Nữ, Vị thì ứng vào
trân tinh.
Hình tượng ở trên trời mà chiếu sáng
xuống đất, bởi vậy mới bảo: “Sa tuy tại đại, quan thực ư thiên” nghĩa là: Sơn
sa ở dưới đất, nhưng thực quan hệ ở trên trời. Nếu không có kinh tuyến (dây
ngang) thì không thể lập cực (đúng cao) không có vĩ tuyến (dây dọc) thì không
lấy gì mà biến hóa; một đường ngang, một đường dọc đúng là âm và dương giao đạo
vậy.
PHÂN PHÒNG CUNG VỊ
Có một người con trai thì nó quản lý tất
cả trong vòng bàn của địa cục; có 2 người con thì bên tả thuộc về trưởng (con
lớn), bên hữu và tiền, hậu (trước sau) đều thuộc về tiểu (con nhỏ), chỗ này khô
khan, đã là không đều! Có 3 con thì phân cung vị; triêu và tọa thì thuộc về
phòng thứ 2; có 6 con thì bày lại, thì thứ 3 và thứ 6 thuộc về bên hữu, con thứ
4 ở đầu trước, lần lượt chia đều bằng nhau; phòng thứ 2 thì ở triều và án sơn;
có 5 con thì chia bằng nhau. Đây là căn cứ vào số của các phòng để phân vị với
các sơn sa. Nếu biến đổi khác như lẫn lộn sa và bùn lầy thì phải rõ, mà luận
định khác nhau.
Thí dụ: Cung vị của 6 con: về bên Thanh long, từ đằng sau qua đi là sa thuộc về
trưởng; từ án sơn trở đi là sa thuộc về con thứ 4; về bên Bạch hổ từ đằng sau
qua ra đằng trước là cái sa của con thứ 3; từ án sơn trở đi là sa của con thứ 6
Tóm lại, sa thế gần cung nào, thì ứng
vào cung ấy. Như vậy là đến cung nào không có sơn sa thì phòng (con) ấy bị
tuyệt tự.
Như: Tý sơn Ngọ hướng thì Cấn, Dần, Giáp
là nội Thanh long thì thuộc về phòng trưởng; Mão, Ất, thìn là ngoại Thanh long
thuộc về phòng thứ 4. Kiền, Tuất, Tân là nội Bạch hổ thì thuộc phòng thứ 3.
Dậu, Canh, Thân là ngoại Bạch hổ thì
thuộc phòng thứ 6
Bên tả không có sa thì con trưởng bại
trước; bên hữu không sa thì con thứ 3 bị lênh đênh. Hướng sơn và tọa sơn không
có sa, khoáng khuyết thì con thứ 2 và 5 thất bại, chỉ có 1 án, 1 huyệt sơn thì con
trưởng và đứa thứ 3 sẽ lưu lạc. Bên Thanh long bằng và thẳng được, mà triều sơn
và hai phương rất đẹp đẽ thì con trường dần dần tiêu ma; con cháu phòng thứ 4
ly tán đi xa. Nếu bên Thanh long toàn mất, triều ghé vào bên hữu thì hợp vào
trưởng phòng làm long tinh. Triều sơn không có, long ở xa đến làm án thì con
thứ 2 cùng hợp cả phòng thứ 3 và thứ 2 như nhau. Cái cát, hung, phúc, họa cứ
theo thứ tự đó mà làm. Đây là chân bí quyết của Lại Công, thân như bố con cũng
không chịu nói. Người đời sau mà biết được phép tiêu sa này thì làm ông tiên ở
lục địa trong thiên hạ.
Hợp nhật, nguyệt với ngũ hành lại gọi là thất chính, tức là 7 vị chính đứng
đầu:
- Tả sa thuộc về con thứ
1,4,7
- Tiên sa thuộc về phòng thứ
2,5,8
- Hữu sa thuộc về phòng thứ 3,6,9
Có một con thì hết thảy đều thuộc về
người đó.
28 sao chuyển ngược từ bên hữu về bên
tả, tức là hữu toàn; Hợp thiên - thông lịch.
TẦNG THỨ 13
60 LONG THẤU ĐỊA
Chia đều 60 long thấu địa gọi là thiên
kỷ, bắt đầu từ Giáp tý ở tầng chính châm. Hợi, Mùi thuộc Kiền cung; Kiền của
hậu thiên thì liên hệ với cấn ở tiên thiên; Cấn là sơn vì cớ đó gọi là xuyên
sơn. Chia đều 60 long bắt đầu từ Giáp tý ở chính châm. Nhâm đứng ở đầu thuộc về
Khảm; Khảm ở hậu thiên, liên hệ với Không ở tiên thiên; Không là đất nên gọi là
thấu địa, không nói xuyên mà nói thấu; lấy thấu là thông thấu tất cả, như cái
ống thổi tro, hơi ra ở cái lỗ đó là thoát thấu được hết. Không nói sơn mà nói
địa, là vì địa phát sinh ra vạn vật va ngũ hành khí đều do ở trong đó: Địa có
cát khí, thổ tùy khí mà khởi. Có thể thấy hình tượng nổi lên trên mặt đất, đều
do khí của ngũ hành thấu qua địa trung, hễ khí mạnh thì đất tùy khí mà lên cao,
hễ khí yếu thì đất cũng tùy khí mà bình phục; khí thanh thì đất được thanh tú,
đẹp đẽ, khí trọc thì đất cũng tùy khí mà hung ác. Như vậy, khả dĩ nói là đắc
địa. không nói ... mà nói long, là vì long có khí mà không hình, nó biến hóa
không lường được. Không ai là không phải luận long, thấu ở huyệt trung vì long
đó là đầu mối biến hóa. Vậy cần phải biết cái hay của 60 long thấu địa nên được
gọi tên là thấu địa long. Vì lẽ đó, sự tác dụng này là “táng thừa sinh khí”.
Tất nhiên là phải nhận định cái long lai nhập thủ trước hết, tức là chỗ xương
sống đất phân thủy ở sau huyệt, phải nhận xét kim của la bàn và mạch vào huyệt
cho thật đúng.
Thí dụ: NHẬP THỦ LONG: Như 60 long: Tân
Hợi nạp âm thuộc kim, mạch long từ bên hữu lại thì lấy tay bên tả làm thừa khí,
thì huyệt tinh phải tọa Kiền hướng Tốn, mới thâu được Đinh Hợi khí là thộc thổ;
Chính Kiền long tọa huyệt là thổ sinh Tân Hợi kim, là huyệt sinh lai long thì
nhà ấy phát phúc. Nhược bằng, thâu được Ất Hợi thì 7 phần hợi, 3 phần Kiền là
hỏa âm (âm nạp âm) tọa huyệt thì khắc Tân Hợi là long lại khắc huyệt sơn, thì
nhà đó ít có lộc. Cũng thâu được Kỷ Hợi khí 5 phần Kiền, 5 phần Hợi là sát diệu
gọi là hỏa khanh thì con cháu phần nhiều mắc bệnh lao thổ huyết, tốn thê, khắc
tử, bị nước bùn, kiến, mối vào quan tài đục cắn hài cốt.
Có bài thi ca của Tiên thánh rằng:
Nhị thập tứ sơn, điên điên, đảo đảo,
Nhị thập tứ sơn, hữu châu bảo
Nhị thập tứ sơn, thuận nghịch hành
Nhị thập tứ sơn, hữu hỏa khanh.
Lại nói: “Đáo đầu sai nhất chỉ, như cách
vạn trùng sơn”. Xem đó được thấy xuyên sơn, thấu địa đều là tự dụng. 72 long
chỉ luận về lai mạch, để định cường đầu (chố sông đất gồ lên) mà thấy phân
thủy, ở sau huyệt, cứ trên long tích mà đặt bàn châm, độ khoảng 8 thước long
đầu ở phía sau huyệt, dùng bàn châm của 60 long thấu địa, xuyên sơn thì không
cần dùng.
Thẩm nhận, khí nhập huyệt của 60 long:
mỗi một long có 5 khí, chữ là vượng; như long của 2 vòng Bính tý và Canh tý,
thì có 24 vị châu bảo là cát. Lại cần phải tránh chỗ không, hư, sát diệu, không
vong như: Giáp tý, Nhâm tý, Mậu tý long ở trong 3 vòng này, có 36 huyệt là khí
thác quan sát là toàn hung. Lại cần phải tránh cái hỗn thiên độ, không nên khắc
phân kim; phân kim không nên khắc tọa huyệt; tọa huyệt không nên khắc thấu địa;
thấu địa không nên khắc lai long. Khắc thì nên thuận khắc: Lấy cái hạ khắc
thượng thì cát. Sinh thì nên nghịch sinh, là lấy dưới sinh trên thì làm xem đó
thấy tác dụng của thấu địa, phải nên lưu tâm, cẩn thận chớ nên khinh thường.
Trong la kinh bàn chép 24 vị có chính
tự, hợp với 24 sơn chính, khí mạch, nhập thủ là châu bảo. Chép có 12 ngũ tự là
hỏa khanh.
Trong 24 sơn thì có 37 long là sai thác,
không vong. Người đời ai cũng biết là huyệt tại sơn, mà không biết các vị trí
của huyệt chỉ độ một tấc vuông, là nhỏ bằng sợi dây tơ, đặt nằm trên la bàn.
NGHIỆM TÂN CỰU PHÂN ĐOÁN
THI CA
Nhất cá sơ đầu, táng thập phân
Nhất phân phú quý, cửu phân bần
Đông sơn, đông hướng, đồng triều thủy
Cánh hữu đồng đôi, công tỉnh doanh
Nhất biên quang hoa, sinh phú quý
Nhất quan nô thủy, tuyệt nhân đinh
Huyệt tọa hỏa khanh, chiêu nô thủy
Kim ngưu tọa huyệt, khởi tử đằng
Thời sư nhược năng tri thử lý
Đả phá âm dương huyền diệu tinh.
Nghĩa là:
Một khoảng sơn ở sau đầu, chôn 10 ngôi
mộ
Chỉ có 1 ngôi là phát phú quý, còn 9
ngôi bần
Cùng một sơn, một hướng, một giãy thủy
chầu
Cũng có cùng đồng mộ, ở cùng một lỗ
huyệt
Một bên khí nhuận tươi, sáng thì sinh
phú quý
Một bên thấy bùn nước vào quan tài bị
tuyệt tự
Đó là huyệt tọa vào chỗ hỏa khanh, thì
bùn nước vào
Huyệt tọa vào chỗ kim ngưu, thì có tơ
tía quấn phủ
Thầy địa lý nào biết lý khí này nghiệm
như thế
Là khám phá được mọi huyền diệu tinh vi
của âm dương.
TINH VI HUYỀN CƠ THI CA
Bát xích loan đầu yêu thức chấn
Trung gian tích thủy lưỡng biên phân
Khán tha sinh ý quy hà xứ
Thập tự đương trung chính lập thành
Cánh khán lưỡng biên vô cường nhược
Định tâm phương khả hạ la châm
Châu bảo hỏa khanh an bài định
Phú
quý bần tiện nghiệm như thân
Nhị thập tứ sơn điên điên, đảo đảo
Nhị thập tứ sơn hữu châu bảo
Hữu nhân tọa liễu thử nhật huyệt
Vinh hoa phú quý thử trung thảo.
Nhị thập tứ sơn đảo đảo điên
Nhị thập tứ sơn, hữu hỏa khanh
Hữu nhân tọa liễu thử nhất huyệt
Gia nghiệp thoái bại, tuyệt nhân đinh
Chỉ nhân bất thức, loan đầu xứ
Hỏa khanh tương lai, tác châu bảo
Hữu nhân tri đạo, kỳ trung diệu
Năng cứu thế gian bần cùng nhân
Lập lại loan đầu tâm chính khí
Kim ngưu tọa huyệt khởi tử đằng
Giải nghĩa theo nguyên văn:
- Cần nhận rõ ở chỗ loan đầu khoảng 8
thước
- Ở giữa khoảng sống đất cao hơn thủy
phân 2 bên
-
Xét cái ý nó chuyển về bên nào, đó là sinh khí
- Mình đứng chính giữa chỗ chứ thập đó
- Xét thấy 2 bên quân bình, không bên
nào mạnh yếu
- Quyết định có thể đặt la bàn đúng chấm
- Châu bảo, hỏa khanh đã phân rõ vị trí
rồi
- Giàu sang, nghèo hèn ứng nghiệm như
thần
- Trong 24 sơn đảo xuôi, đảo ngược đều
là có châu bảo
- Đều là có châu bảo ở trong 24 sơn đó
- Ai đặt huyệt tọa đúng chỗ châu bảo là
phú quý.
- Trong 24 sơn cũng đảo ngược, đảo xuôi
kia
- Đều có vị trí của hỏa khanh ở trong đó
- Nếu ai đặt táng tọa vào hỏa khanh thì
tuyệt tự
- Đó chỉ vì họ không biết rõ khí của
loan đầu
- Nên làm lộn vị trí của hỏa khanh đem
làm châu bảo
- Nếu ai biết được cái đạo lý kỳ diệu ở
trong đó
- Có thể cứu được những người cùng khổ ở
trong đời
- Là đứng tại giữa chỗ loan đầu mà tìm
chính khí
- Đặt huyệt đúng tọa vào kim ngưu thì tơ
hồng tía quấn phủ.
DƯƠNG CÔNG NGŨ KHÍ LUẬN:
Treo ông Dương Công luận xét thì: Từ
Giáp tý luận chuyển đi một vòng đến ất hợi là mạch lãnh khí, là hư; Từ bính tý
đi một vòng đến đinh hợi là mạch chính khí là vượng; từ Mậu tý một vòng đến kỷ
hợi là mạch bại khí là sát; từ Canh tý một vòng đến Tân hợi là mạch khí vượng
là tướng; từ Nhâm tý một vòng đến quý hợi là mạch khí thoái là hư.
LỤC THẬP LONG THẤU ĐỊA
TỨC NGŨ TÝ KHÍ – CÁT HUNG BÍ QUYẾT
1-Khí Giáp Tý 7 phân Nhâm 3 phân Hợi
là tiểu thác; là Giáp Tý xung quan mà sanh ra
các bệnh: hoàng sũng, điên dại, phong, lao, tê liệt, cùi hủi, gái câm, trai
ngọng v.v… Nếu thấy thủy ở phương Bính lại, thì trong quan tài có bùn nước đọng
sinh ra thưa kiện v.v… sẽ ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu.
2-Khí Bính Tý ở
chính Nhâm long thì rất tốt thêm người, gia của phú quý song toàn, mọi
việc đều tốt. Nếu thấy thủy ở phương Mùi lại và phương Khôn thì chung quanh
quan quách là cái lọ chứa nước, rất xấu, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị,
Dậu, Sửu.
luân, không những quan tài bị rễ
cây xuyên vào mà còn kiến, mối đục nữa. Nếu thấy
thủy ở phương Tốn lại thì trong quan tài có 2,3 phần nước, bùn thì hỏng, sẽ ứng
vào những năm: Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn.
4-Khi Canh Tý ở
chính Tý long được phú quý song toàn, phúc lộc thịnh vượng lâu bền.
Nếu thấy thủy ở Tốn lại là trong quan tài có bùn thì xấu hay dở sẽ ứng vào các
năm Thân, Tý, Thìn.
5-Khí Nhâm Tý, 7 phân Tý, 3 phân Quý
là dương nhận, sinh ra người hay chết non và bị
trộm cướp, tổn thê, hại tử, gặp nhiều tai nạn. Nếu thấy thủy ở Canh Tân lại thì
trong quan tài có đầy bùn nước, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.
6-Khi Ất Sửu
7 phân Quý, 3 phân Tý thì người của đều được thịnh vượng, sang giàu.
Nếu thấy thủy ở phương Ngọ, Đinh thì quan tài có đầy bùn nước; tốt hay xấu đều
ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu
7-Khí Đinh Sửu ở
ngay Quý long, sinh ra người thông minh, lanh lợi, phú quý lâu bền;
mọi sự vui vẻ. Nếu thấy thủy ở phương Mùi đến, thì trong quan tài có nước như
ao thì hỏng; tốt hay xấu đều ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn
8-Khi Kỷ Sửu có 5
phân Sửu, 5 phân Quý là hắc phong, thì con gái bị chết non, con trai
bệnh tật; mọi sự đều xấu, thường sinh ra bệnh điên khùng và thất bại đau đớn.
Nếu thấy thủy ở phương Hợi lại thì trong huyệt có nước và sâu bọ, là vì thủy ở
trong hỏa khanh sinh xuất, sẽ ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất
9-Khí Tân Sửu ở
chính Sửu long, thì 30 năm sau mới giàu sang Đinh tài, đại vượng; mọi
sự cát tường, sinh ra người nhân từ hiếu thảo, khác thường. Nếu thấy thủy ở
phương Dần lại, trong quan tài có bùn nước là xấu.
10-Khí Quý Sửu, 7
phân Sửu, 3 phân Càn là phạm cô hư, sau khi tọa táng xong có nhiều
tai họa xảy ra; mọi sự không vừa ý, cả gia đình đều lủng củng, khẩu thiệt sẽ
ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy thủy ở phương Kiền thì có rễ cây
xuyên vào quan tài
11-Khí Bính Dần,
7 phân Cấn, 3 phân Sửu thì
huyệt bình thường, phát phúc, nhưng không
bền sẽ ứng vào các năm Dần,
Ngọ, Tuất; mọi sự đều cát tường.
Nếu thấy thủy ở phương Hợi lại thì quan tài bị bùn vào nát hư
12-Khí Mậu Dần
chính Cấn long thì phú quý vinh hoa đời đời thịnh vượng, ứng vào các
năm Thân, Tý, Thìn đậu đạt; chỉ sợ thủy ở phương Mão lại xung quan thì hung.
13-Khí Canh Dần, 5 phân Càn, 5 phân
Cấn là cô hư, hỏa khanh, hắc phong, không vong.
Sau khi táng 3, 6, 9 năm thấy sinh ra bệnh tật, gia tộc bại tuyệt, rất đau
buồn. Lại thấy Thân thủy lại xung thì trong huyệt có bùn vào
14-Nhâm Dần khí ở
chính long Dần, thì phú quý, phúc trạch dồi dào, lắm ruộng nhiều
vườn, sẽ ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy thủy ở phương Ngọ xung thì quan
tài có bùn là hỏng.
15-Giáp Dần khí có 7 phân Dần, 3
phân Giáp thì được bình an, một đời phát phúc, qua
đời sau bị mắc bệnh đau mắt. Nếu thấy thủy ở Khôn xung vào thì quan tài bị mối,
kiến đục thì xấu.
16-Đinh Mão khí có 7 phân Giáp, 3
phân Dần là bình thường, sinh ra người hay tửu sắc,
phiêu lưu, lười biếng, ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy thủy ở Hợi xung
vào thì huyệt có nhiều bùn nước là họa bại
17-Kỷ Mão khí ở
chính Giáp long, Đinh tài đều phát đạt, ăn mặc phong lưu. Nếu thấy
thủy ở Tốn xung vào thì có chuột bọ đục khoét hài cốt, con cháu đau buồn, không
nghi hoặc gì nữa.
18-Tân Mão khí có 5 phân Tân, 5 phân
Mão là hắc phong, hỏa khanh sanh ra trộm cướp,
ngành thứ 3 bị bại tuyệt trước, rồi đến cả các ngành khác; sau bị thưa kiện,
xảy ra nhiều sự hung dữ. Nếu thấy thủy ở Canh Thân lại thì quan tài có đầy bùn
ngập. Mộ này chậm không chịu di cải thì bị bại tuyệt không tránh khỏi.
19-Quý
Mão khí ở chính Mão long thì
phú quý song toàn, sinh ra người
thông minh, khỏe mạnh, mọi sự tăng tiến. Nếu thấy thủy
ở Tị phương xung vào thì có rễ cây đâm vào quan tài,
lành dữ đều ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu
20-Ất Mão khí, 3
phân ất, 7 phân Mão, hay sinh ra người cô quả, yểu tử, đời sau sinh ra
người khòng lưng, khèo chân, tuy có người cũng khó giữ thân thế an toàn. Nếu
thấy thủy ở phương Tuất xung vào thì trong huyệt có nhiều bùn nước nuôi cá tốt.
21-Mậu Thìn khí, 7
phân ất, 3 phân Mão, thì được người trường thọ, giàu sang, danh giá
nêu cao. Nếu thấy thủy ở phương Thân, Dậu xung vào thì trong quan tài có kiến,
bọ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu
22-Canh Thìn
khí ở ngay ất long, thì an nhàn phát phúc vĩnh cửu vô cùng; 7
đời giàu
sang, sanh ra người tuấn tú, anh
hùng, siêu quần quán thế, ứng vào
những năm Hợi, Mão, Mùi; chỉ sợ Đinh thủy xung vào thì sinh
hỏa tai.
23-Nhâm Thìn khí, 5
phân Thìn, 5 phân ất là hắc phong, hỏa khanh, bại tuyệt, hay què
chân, sinh khẩu thiệt, thưa kiện, ly hương, tu đạo, biệt tông. Nếu thấy thủy ở
phương Tuất lại thì quan tài có bùn, bọ, kiến ở trong.
24-Giáp Thìn
khí ở chính Thìn long thì 75 năm phát giàu sang thịnh vượng. Nếu
thấy
Tý, Quý thủy đến thì trong huyệt có bùn ngâm
25-Bính Thìn khí,
7 phân Thìn, 3 phân Tốn, thì người ngoài được phát phúc no ấm, yên
ổn, rước con rể vào phòng (rước họa vào nhà) đời sau bại tuyệt vô tử, ứng vào
những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Dần, Thân thủy xung vào, thì bị rễ cây đâm
vào quan, vong nhân bất an.
26-Kỷ
Tị khí, 7 phân Tốn, 3 phân Thìn
thì phú quý ngang nhau, ứng vào
những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy phương Kiền thủy xung, thì thây cốt
chôn bùn
27-Quý
Tị khí, 5 phân Tị, 5 phân Tốn
là hắc phong, hỏa khanh thì bại
tuyệt, bách sự hung dữ, sau khi táng
5 hoặc 7 năm thì già trẻ, lục
súc tan như gió bay. Nếu thấy
thủy ở phương Sửu đến xung thì có chột làm tổ ở trong huyệt.
28-Ất
Tị khí ở chính Tị long, được
vinh hoa, phú quý, phúc lộc hưng
long, ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất có nghiệm. Nếu Quý thủy xung
vào thì quan tài có bùn đầy.
29-Đinh Tị
khí, 7 phân Tị, 3 phân Bính, thì sau 3 hoặc 7 năm thì khẩu thiệt đều. Nếu
thấy Mão thủy đến thì trong quan tài có bùn và nước ở ngoài xâm nhập
30-Tân Tị khí ở
chính Tốn long thì quá nguyệt là phát vinh hoa phú quý cho con cháu
dòng họ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu; chỉ sợ là Ngọ Đinh thủy lại xung thôi
31-Canh Ngọ khí, 7
phân Bính, 3 phân Tị thì nhân hưng tài vượng sẽ hẹn được đời đời
tăng tiến hạnh phúc, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất; chỉ
kỵ thủy ở Giáp Dần lại thì tổn Đinh.
32-Nhâm Ngọ khí ở
chính Bính long thì sinh xuất anh hung, phú quý song toàn, được 3
đời, sau cháu chắt vẫn còn thịnh
vượng, ân hưởng bằng sắc huy chương.
Kỵ thấy thủy ở phương Thân lại thì hỏng.
33-Giáp Ngọ khí, 5
phân Bính, 5 phân Ngọ là hỏa khanh, năm Tị, Dậu, Sửu gia trung bị
bại khuynh. Lại thấy Đinh, Ngọ thủy lại thì đáy quan tài nát như bùn.
34-Bính Ngọ khí ở
chính Ngọ long thì gia nghiệp bình bình, sinh ra người thông minh,
mọi mưu sự đều thành tốt lành; gặp vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu.
Nếu thấy Sửu, Cấn thủy lại xung thì trong quan tài bùn nước vào thì hỏng.
35-Khí Mậu Ngọ, 7
phân Ngọ, 3 phân Đinh thì quan tụng, khẩu thiệt rắc rối, người của
bình thường, hằng năm hay sanh ra hoành sự bất ngờ. Nếu thấy thủy ở Quý, Tý
xung thì ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất không sai
36-Tân Mùi khí, 7
phân Đinh, 3 phân Ngọ thì sinh người tuấn kiệt, phát phúc mạnh như
sấm động, tiền nát, thóc mục đầy kho. Nếu thấy Ngọ phương thủy xung, thì quan
tài bị rễ cây xuyên vào thì rất xấu.
37-Quý Mùi khí ở
chính Đinh long, thì sinh ra người phú quý, thọ khảo mộc đầu. Nếu
thấy phương Canh thủy xung vào thì người chết về tai ách, ứng vào các năm Hợi,
Mão, Mùi
38-Ất Mùi khí, 5
phân Đinh, 5 phân Mùi là phạm cô hư, hỏa khanh thì bại tuyệt rất đau
đớn. Lại thấy Tị phương thủy xung, thì thây xương nát rã thành đất bùn, ứng vào
các năm Tị, Dậu Sửu.
39-Đinh Mùi khí ở
chính Mùi long thì gặp được phú quý song toàn, lâu dài, ứng vào các
năm Thân, Tý, Thìn. Còn gặp hung sự vào những năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy Sửu,
Cấn phương thủy xung vào thì bùn nước đầy trong quan tài là hỏng.
40-Kỷ Mùi khí, 7
phân Mùi, 3 phân Khôn là phạm cô hư thì bị tai họa phá bại không sai.
Đến hạn những năm Dần, Ngọ, Tuất thì sinh ra bệnh phong mê cuồng độc. Nếu thấy
thủy ở phương Hợi, Nhâm xung vào thì nhi tôn có sự tai họa bất ngờ.
41-Nhâm Thân khí, 7
phân Khôn, 3 phân Mùi thì phá gia tài, bại sản, bệnh tật, đau đớn
liên miên đáng buồn khổ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu, thuốc thang khó điều
trị. Nếu gặp thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có đầy nước.
42-Giáp Thân khí ở
chính Khôn long, được sinh ra người thông minh, tuấn tú, phú quý
thanh nhàn, điềm ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn; đời đời vui
vẻ vô cùng. Nếu thấy thủy phương Càn lưu xung thì quan tài bể nát làm hư
thì hỏng bại
43-Bính Thân khí, 5
phân Thân, 5 phân Khôn là hắc phong, hỏa khanh bị bại tuyệt bần
cùng. Nếu thấy Tý, Quý thủy xung thì huyệt có bùn nước, thực không sai.
44-Mậu Thân khí ở
chính Thân long thì sinh ra người thông minh trường thọ, phú quý
song toàn. Nếu thấy Giáp thủy xông vào thì quan tài đầy bùn nước, là tối hung.
45-Canh Thân khí, 7
phân Thân, 3 phân Canh thì phạm cô hư, có nhiều tai nạn xảy ra.
Lại thấy Kiền thủy lai xung, thì người bị về tai nạn áp bức chết.
46-Quý Dậu khí, 7
phân Canh, 3 phân Thân được phát phú quý, người của vẹn toàn cả
hai và sống lâu. Nếu thấy thủy phương Đinh xung vào thì huyệt trở thành ao ngâm
nước quan tài, hài cốt hư nát.
47-Đinh Dậu khí, 5
phân Canh, 5 phân Dậu là phạm hỏa khanh, thì bách sự bất như ý, bị
tuyệt tự nhân Đinh. Nếu thấy Quý thủy xung vào thì quan tài đầy bùn nước mãi.
48-Ất Dậu khí ở chính Khôn long sinh ra
người rất thông minh và giàu sang. Nếu thấy
thủy Thìn phương xung vào thì quan tài chôn chỗ nước bùn.
49-Kỷ Dậu khí ở
chính Dậu long, thì phát văn võ gần tới tước tam công (quan to) đời đời
giàu sang, điềm ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy thủy phương Mão
xung, thì áo quan cũng bị bùn vào, không kết phát đâu.
50-Tân Dậu khí, 7
phân Dậu, 3 phân Tân thì giàu sang bền mãi, người của hưng vượng,
mọi sự đều tốt lành, sẽ ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy Kiền thủy
phương xung vào quan tài thì lại ưu sầu.
51-Giáp Tuất khí, 7
phân Tân, 3 phân Dậu, được phát phú quý 1 đời không vẹn, qua đời
sau sinh ra người đi làm tăng ni tu đạo; ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất, bị cô
quả mà bại tuyệt, mọi sự buồn chán, lo âu. Nếu thấy thủy phương Nhâm xung vào
thì sinh ra kỳ quái, ma quỷ trêu quậy.
52-Bính Tuất khí ở chính Tân long thì
sinh ra nhân Đinh phát đạt vui vẻ, đăng khoa cập
đệ sớm, vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Giáp Mão thủy xung, có rễ cây
đâm xuyên vào quan tài.
53-Mậu Tuất khí 5 phân Tuất, 5 phân
Thân, phạm vào cô hư, hỏa khanh, bị bại tuyệt,
người sinh nhiều bệnh tật, chết non,
cô quả, vào chùa tu đạo, tổn vợ
khắc con, quyết định không nghi hoặc, ứng vào các năm Ngọ,
Mùi đã biết trước rồi, lại chịu nhiều tai họa kỳ dị. Nếu thấy thủy phương ở
Thân xung thì quan tài hư nát không còn.
54-Canh Tuất khí ở
chính Tuất long, thì được giàu sang, sung sướng,ăn mặc phong lưu,
những năm Tị, Dậu, Sửu thấy tin vui mừng, 36 năm sẽ sanh ra người thông minh
xuất chúng. Nếu thấy Ngọ, Đinh thủy xung vào thì hung bại.
55-Nhâm Tuất khí,
7 phân Tuất, 3 phân Kiền, sinh ra người chết non, không có của cải,
Ly hương vào chùa tu đạo, tổn khê, khắc tử, bại phòng 2 (con thứ 2 bại), thoái
bại không thể lo tính thoát khỏi. Điềm ứng
vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu
thấy thủy Thìn, Tuất phương xung thì trong quan tài có đầy
bùn nước ngập.
56- Ất Hợi khí, 7 phân Kiền, 3 phân Tuất
sinh ra con dâu quả phụ, chết non, bệnh tật
phong tàn đủ cảnh thảm thương, con mồ côi. Năm Dần, Ngọ, Tuất thì phát khốc đau
buồn. Nếu thấy thủy ở cung Khôn xung thì trong quan tài đầy mối kiến đục gặm.
57-Đinh Hợi khí ở
chính Kiền long thì đại phát phú quý, được nhiều sự cát khánh, ứng
vào các năm Thân, Tý, Thìn; chỉ sợ Tốn thủy phương xung thì quan tài đầy bùn
nước mục nát, tối hung.
58-Tân Hợi khí ở chính Hợi long, thì Đinh tài đều phát, lâu bền thịnh vượng.
Nếu thấy
Ngọ, Đinh thủy xung thì bùn vào quan tài mục nát, đại hung, tối kỵ.
59-Kỷ Hợi khí, 5 phân Kiền, 5 phân Hợi
là phạm hắc long hỏa khanh, sinh ra hung bại,
đến những năm Thân, Tý, Thìn, Dần,
Ngọ, Tuất người ly tán tha phương,
đa sinh kỳ quái. Nếu thấy Canh, Dậu thủy xung, thì rễ cây
xuyên đâm vào quan tài thì hung bại.
60-Quý Hợi khí, 7
phân Hợi, 3 phân Nhâm, được làm quan, phát mọi sự, phong hanh,
người của được thịnh vượng, sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn có nhiều cảnh vui
đẹp. Nếu thấy Thìn thủy xung thì trong quan tài không sạch sẽ.
NHỊ THẬP TỨ SƠN
HỎA KHANH THÂN ĐOÁN
Mậu Tý, Giáp Ngọ khí nan đương (khí ác khó chịu)
Âm dương sai thác, thị (là) không vong
Hốt thính sư nhân chân khẩu quyết (tức
là phép truyền khẩu)
Lập trạch (nhà) an phận (mả) kiên Tốn
thương
Thân, Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất (ứng
vào 6 năm này)
Tật bịnh quang tai (thưa kiện) tổn nhị
phòng (con thứ 2)
Quan tặc khiên liên (kéo dài) phòng
phòng chiêm (cả các con)
Nê thủy nhập mộ (mộ) bất phi thường (độc
lắm).
******
Kỷ Sửu, Ất Mùi, khí hung bạo (dữ tợn)
Kỳ trung hỏa khanh, tối bất lương
Tị, Dậu, Sửu niên, Hợi, Mão, Mùi (ứng
vào 6 năm)
Tật bịnh quang tai, thoái điền trang
Bạch nghĩ (môi trắng) biện tòng đế hạ
(dưới đáy) nhập
Tổn thê, khắc tử, tại tam phòng (con thứ
3)
Thử phân (mộ này) nhược hoàn (nên còn)
bất cải dĩ
Tử tôn tháp tự (giống như) ngõa thượng
sương (tuyết)
Canh Dần, Bính Thân, khí bất lương
Lập trạch, an phân, tổn trưởng phòng
Thân, Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất
Tổn thê, khắc tử tối nan đường
Tật bịnh quang tai, phòng phòng chiếm
(lẫn cả cho con)
Thủy, hỏa, khiên liên tổn ấu phòng (con
trẻ nhỏ)
Bạch nghĩ tiên tòng, để hạ nhập
Điền trang thoái bại, thủ không phòng
(nghĩa là kiến, mối,… dưới đáy quan mà vào khoét, thì ruộng nương tan hết, giữa
buồng rỗng tuếch) Tân Mão, Đinh Dậu bãi vi cường (chẳng phải mạnh)
Lập trạch, an phân, tổn nhị phòng
Hợi, Mão, Mùi niên, Tị, Dậu, Sửu
Tật bịnh, quang tai, tổn tam phòng
Thủy, hỏa Khôn liên, đa hoành sự
Nhân Thân liên lụy, phòng phòng đương
(cả các con)
Nhâm Thìn, Quý Tị khí như thương (mũi
nhọn)
Lập trạch, an phân tổn tam phòng
Thân. Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất
Tật bịnh, quang tai, tổn tiểu phòng (con
út)
Hậu đại nhi tôn, đa tăng đạo
Tổn thê, khắc tử, bất an khang.
******
Mậu Tuất, Kỷ Hợi thị không vong
Lập trạch, an phân tổn trưởng phòng
Tị, Dậu, Sửu niên, Hợi, Mão, Mùi
Tật bịnh, quan tai, tổn tiểu phòng
Thủy, hỏa khiên liên, xuất ngoại tử
(chết)
Điền địa, nhân tài, như tuyết sương
Bạch nghĩ tiên tòng, để hạ nhập
Nhi tôn ngỗ nghịch, tẩu tha hương.
Tiên Thánh nói: ở dưới chỗ huyệt
ngồi mà không được là chân khí
mạch, thì dầu có muôn tầng núi trùng trùng, điệp điệp ở trước
mặt cũng coi như là không có gì cả.
Chỗ đặt mộ mà được long mạch tốt đẹp
hoàn toàn, thì dù có ít sơn sa, cũng có thể phát
phú quý được, chính là bảo vệ lý khí ở bài trên đây.
Bính Tý, Canh Tý 2 vòng này là châu bảo,
đó là “Tầng thừa sinh khí” là được cái linh
khí của núi sông. Vậy lấy là cái tốt hàng đầu của 36 vòng La kinh.
THẤU ĐỊA LỤC THẬP LONG THỨC

Bên dưới mỗi chữ về thấu địa có ghi rõ chữ số tam (3), thất (7), ngũ (5), và
chữ chính,
làm 1 vòng đến chữ thiên chính, đã bày ở tầng thứ 14.
Đặt táng vào hỏa khanh, thì huyệt sẽ có
mối, kiến, rễ cây và bùn nước chiếm ngâm nát
hài cốt, đất trên mả khô khan, cây cỏ héo hon như phân trâu, bò, con cháu sinh
dâm loạn, yểu vong, cô quả, sinh ra người ngỗ nghịch, điên cuồng, người hết,
của hao, tai họa, kiện cáo liên miên v.v…
Đặt táng vào huyệt châu bảo, mở xem hẳn
là thấy có sinh khí ôn nhuận, đất có ngũ sắc
vân như hồng hoàng, sáng sủa, lại có tơ hồng, dây tía phủ quấn quan tài, hài
cốt. Đất trên mộ thì có khí mát, ẩm dịu, cây cỏ xanh tươi tốt. Vậy sinh ra phú
quý không sai.
TẦNG THỨ 14: THẤU ĐỊA KỲ MÔN
TỬ PHỤ, TÀI QUAN, LỘC MÃ QUÝ NHÂN
BÀI CA NGŨ NGÔN: TIÊN NGÔN XUYÊN SƠN HỔ
Phương hành thấu địa long
Hỗn thiên khai bảo chiếu
Kim thủy nhật, nguyệt phùng
Nghĩa là: Trước hết nói xuyên sơn hổ,
rồi đi đến thấu địa long, tự nhiên trời mở sáng như bảo kính soi,
“Xuyên sơn hổ” là tiếp mạch của 72 long, “tiên thức” là xét cái lai mạch trước
để biết Long nhập thủ là long gì ? Không nói là long mà nói là hổ, đó là ý
nghĩa của phép dùng “ngũ hổ” làm nguyên độn để ứng khí hậu.
“Phương hành” là đã biết long nhập thủ
rồi, thì sau mới có thể làm việc thừa khí, tọa huyệt được; “thấu địa” tức là 60
long của tọa huyệt, với 72 long là cái bên trong, cái ở ngoài, nên bảo là
“tương biểu lý”; thấu: là như dùng cái ống thổi khói, để khí thông vào huyệt;
“xuyên” là như dùng sợi chỉ để xỏ vào lỗ kim, để được suốt tới; “hỗn thiên” là
cái hỗn thiên lục Giáp dùng làm độn khởi, để tìm cái sa thủy của tứ cát, tam
kỳ; “bảo chiếu” là như cái gương sáng, soi vào vật đó, có thể thấy đủ cả tứ cát
tinh của hỗn thiên di chuyển; “kim, thủy; nhật, nguyệt” là 4 cầm tinh này hội
hợp 1 chỗ, lấy đó làm tác dụng, để thu sa, thủy, lai long của bản ở tọa huyệt
hợp với tầng thứ 5 của la bàn, cùng luật lệ. Trước hết, theo thời tiết của 6
Giáp, định ra 3 thời hậu: thượng, trung, hạ, sau khi đã chia ra 9 cung dùng để
độn Giáp, xem khởi Giáp Tý ở cung nào, sau đó mới đặt ra quẻ độn, biết quẻ đầu
ở đâu, bản long tới chỗ nào, tử, phụ, tài, quan nhân đó mà suy đoán. Nhật,
nguyệt, kim, thủy theo đó mà hội. Tam kỳ bát môn theo đó mà suy ra, thì biết
hết sự của tinh độ nội quái.
DƯƠNG ĐỘN KHỞI TIẾT CA
Đông Chí, Kinh Trập, nhất thất tứ
Tiểu Hàn, nhị bát ngũ vi thứ
Đại Hàn, Xuân Phân, tam cửu lục
Lập Xuân, bát ngũ nhị tương trục
Thanh Minh, Lập Hạ, tứ nhất thất
Vũ Thuỷ cửu lục tam vô thất
Tiểu Mãn, Cốc Vũ ngũ nhị bát
Mang Chủng lục tam cửu số chi
Nghĩa là: Thuộc về tiết Đông Chí và Kinh Trập thì khởi ở số 1, 7, 4. Tiết Tiểu
Hàn thì khởi ở số 2, 8,
5. Tiết Đại Hàn và Xuân Phân thì khởi ở
số 3, 9, 6. Tiết Lập Xuân thì khởi ở số 8, 5, 2. Tiết Thanh Minh và Lập Hạ thì
khởi ở số 4, 1, 7. Tiết Vũ Thuỷ thì khởi số 9, 6, 3. Tiết Tiểu Mãn và Cốc Vũ
thì khởi ở số 5, 2, 8. Tiết Mang Chủng thì khởi ở số 6, 3, 9.
ÂM ĐỘN KHỞI TIẾT CA
Hạ Chí, Bạch Lộ, cửu tam lục
Đại Tuyết, tứ thất, nhất cung trú
Đại Thử, Thu Phân, thất nhất tứ
Tiểu Thử bát nhị ngũ trung suy
Lập Đông, Hàn Lộ, lục tam cửu
Lập Thu nhị ngũ, bát cung tham
Tiểu Hàn, Sương Giáng, ngũ bát nhị.
Xứ Thử nhất tứ thất nội hàm
Nghĩa là: Tiết Hạ Chí, Bạch Lộ ở số 9, 6, 3. Tiết Đại Thử ở số 7, 1, 4. Tiết
Đại Tuyết ở số 4, 7, 1. Tiết Tiểu Thử ở số 8, 2, 5. Tiết Lập Đông, Hàn Lộ ở số
6, 3, 9. Tiết Lập Thu ở số 2, 5, 8. Tiết Tiểu Hàn, Sương Giáng ở số 5, 8, 2.
Tiết Xử Thử ở số 1, 4, 7.
TẦNG THỨ 15:
THIÊN ĐỊA QUÁI LỤC THẬP LONG
Theo phép lấy 24 hướng phân phối với 60 long, mỗi hướng giữ 2 long rưỡi, 24 sơn
cộng
với 60 long. Trừ 4 quẻ Chấn, Đoài, Ly, Khảm. Ly là tứ chính đều quản 8 long.
Kiền, Khôn, Cấn, Tốn là tứ ngung, đều quản 7 long.
8 long từ Giáp Tý đến Bính Tý, Mậu Tý,
Canh Tý, Nhâm Tý, Ất Sửu, Đinh Sửu và Kỷ Sửu đều thuộc Khảm.
7 long: Tân Sửu, Quý Sửu, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần, Giáp Dần đều
thuộc Cấn.
8 long: Đinh Mão, Kỷ Mão, Quý Mão, Ất Mão, Tân Mão, Mậu Thìn, Canh Thìn, Nhâm
Thìn đều thuộc Chấn.
7 long: Giáp Thìn, Bính Thìn, Kỷ Tị, Tân
Tị, Quý Tị, Ất Tị và Đinh Tị đều thuộc Tốn.
8 long: Canh Ngọ, Nhâm Ngọ, Giáp Ngọ,
Bính Ngọ, Mậu Ngọ, Tân Mùi, Quý Mùi, Ất Mùi đều thuộc Ly.
7 long: Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Nhâm Thân, Giáp Thân, Bính Thân, Mậu Thân, Canh Thân
đều thuộc Khôn.
8 long: Quý Dậu, Ất Dậu, Đinh Dậu, Kỷ Dậu, Tân Dậu, Giáp Tuất, Bính Tuất, Mậu
Tuất đều thuộc Đoài.
7 long: Canh Tuất, Nhâm Tuất, Ất Hợi, Đinh Hợi, Kỷ Hợi, Tân Hợi, Quý Hợi đều
thuộc
Kiền.
Lấy 6 long phân phối với 24 khí, thì từ Giáp Tý, Mậu Tý, Bính Tý là Đại Tuyết.
Canh Tý, Nhâm Tý là Đông Chí. Ất Sửu, Kỷ Sửu, Đinh Sửu là Tiểu Hàn mà Tân Sửu,
Quý Sửu ở cung âm là Đại Hàn. Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần là Lập Xuân. Nhậm
Dần, Giáp Dần là Vũ Thủy. Tiểu tiết khí quản 3 quẻ, Trung
tiết khí quản 2 quẻ. Quẻ sau của 6 cung đều lấy 60 long ở
trên chia cho cung vị 8 quẻ, đó là quản định vị. Như là ở quẻ
quản là nội quái, những quẻ độn tới là
ngoại quái, hợp thành 2 quẻ.
Ví như: từ Giáp Tý đến Kỷ Sửu là 8 long
thuộc Khảm, đó là 8 long nội, ngoại đều tọa định ở Khảm cung; những quẻ độn
thêm tới là ngoại quái, cộng thành 1 quẻ. Trước hết bày 60 quẻ Giáp Tý, sau sẽ
biết các quẻ: tử, phụ, tài, quan và hỗn thiên khởi lệ đồ thức của 60 long phối
hợp với các quẻ nêu ở sau:
Khi lên núi xem đất, thì nhớ là 60 long
thấu địa. Đây tôi chỉ chép có 24 vị Huyệt Châu
Bảo là Vượng, Tướng thôi, còn 36 long là cô, hư, sát diệu bỏ trống không thì
phải tránh. Học giả chiếu theo 24 vị châu bảo, tôi đã chỉ rõ, cứ coi ở đồ thức
sẽ biết mà làm, thì Sa, Thủy ở các phương: ngũ Thân, tứ Cát của mộ địa đó mà
đoán nghiệm về phát phúc, thì không có cái nào là sai.
Muốn lấy 24 huyệt thấu địa châu bảo, thì
đặt quẻ theo thể lệ ở giữa chỗ huyệt, lấy Tam
Kỳ, Bát Môn, Tử, Phụ, Tài, Quan, Quý Nhân, Lộc Mã, Tứ Cát, Ngũ Thân, mọi tinh
phong tú mỹ cùng ứng ở xung quanh, thì phát phú quý mau chóng. Nếu 6 hào các
tinh phong có, nhưng không được hoàn toàn thì nên tạo cái tháp, cái lầu, cái
đỉnh đài, hoặc đắp ống đất cao lên, hoặc trồng cây tre để bổ sung sẽ được cái
cát mà phát phúc, phát quý lâu dài.
THẤU ĐỊA QUÁI THỨC

Địa bàn này hợp với quẻ thiên nguyên liên sơn mà làm nội quái cho quẻ thấu địa,
gọi là
quẻ liên sơn. Nhà Hạ theo Nhân thông, nên kinh dịch lấy Cấn làm đầu, Cấn là núi
liên miên chẳng chấm dứt.
TẦNG THỨ 16: 60 LONG PHỐI CÁC SAO ĐỂ ỨNG
VỚI TỨ CÁT SA, THỦY
28 sao phân ra khắp tất cả trong 60 long, bắt đầu khởi từ Giáp Tý là Giác mộc
Giao, đi thuận đến Ất Sửu là Cang kim Long, đến Bính Dần là Đê thổ Lạc, hết 1
vòng lại trở ngược lại, bắt đầu khởi từ Giác, luân chuyển ra 2 vòng, mỗi sao
đều quản 2 long. Chỉ có 4 sao: Giác, Cang, Đê, phòng đều được quản 3 Long, để
cho đủ số 60 mà đủ tra sao khởi quái trì theo xét cách sử dụng của tứ cát. Lại
còn 1 phép nữa như là 60 long Giáp Tý nạp âm Kim Long, là Giác mộc Giao quản
cục, tức Mộc thụ Kim Long, đây là sao khắc, chịu chế ngự, vậy khi Phân kim
không nên dùng Kim độ tọa huyệt, vì sao Mộc chịu khắc quá nhiều thì không tốt.
Lại như: Bính Ngọ Thủy Long nguyên là Khuê mộc Lang quản cục, là cầm tinh được
Thủy Long sinh, thật là tốt thượng hạng. Vì vậy được phân kim tọa độ lưỡng nghi
thì càng tốt, mọi cái khác cũng vậy sẽ suy ra.
NHỊ THẬP BÁT TÚ PHÂN PHỐI LỤC GIÁP
Có bài tiệp quyết phụ như sau:
Giáp Tý Giác hề, Ất Sửu Cang
Bính Dần, Đinh Mão, Đê Phòng dương
Thứ tự bài lai, chí Giáp Tuất
Hư tú quản cục, bất tu trang
Sâm Quý Giáp Thân, Đê quy Ngọ
Giáp Thìn thất hỏa vi định củ
Giải nghĩa: Bài thơ ca dễ nhớ về 28 sao
phân phối với 6 Giáp, rất mau hiểu.
Giáp Tý thuộc độ (vi) là sao Giác; Ất
Sửu là sao cang; Bính Dần là sao Đê, Đinh Mão là sao phòng; Giáp Tuất là sao
Hư; sao Sâm thuộc về Giáp Thân; sao Đê thuộc về Giáp Ngọ; Giáp Thìn thuộc về
sao Thất, thuộc hỏa; Giáp Dần thì sao Quỹ, quản cục; mỗi vòng có 10 sao luân
chuyển đi đủ số độ.
Xét thiên này là định luật lệ về cầm
tinh cai quản vị trí ở trong la bàn, như: Giáp Tý long mà xuyên được vào sơn
phận của sao Giác mộc Giao cai quản, thì Giáp Tý là Kim Long; Giác là Mộc tú,
là Kim Long khắc sao Mộc, lại thêm cái hành long là kim độ của hỗn thiên nữa,
đó là cầm tinh chịu khắc, thì dù là Long, Huyệt, Sa, Thủy được khẩn mật, tốt
đẹp cũng chỉ phát tạm thời 1 ít thôi, rồi sau tất bị bại tuyệt, vì sinh ra
nhiều tai họa; bệnh lao, giặc cướp bóc, chết đường xá v.v… Lại như Bính Tý là
Thủy Long, xuyên được vào sơn phận của sao Khuê mộc Lang quản lý, là Thủy sinh
Mộc, lại được Long, Huyệt, Sa, Thủy toàn mỹ, lập hướng hợp pháp thì phát phú
quý vô cương.
Cầm tinh nêú chịu Thân hãm (chế ngự) cũng không tốt lành. Tức như đất mộ tổ
nhà ông Giã Mộ Tướng, hư danh tự đạo, ở huyện Thiên thai bên Trung quốc làm Dậu
sơn, Mão hướng là Kỷ Dậu Thổ, Long quẻ quy muội, hào tam là Đinh Sửu sao
Bích trì thế, sao tốt quản cục, Kỷ Dậu lại thuộc Đinh Dậu, xuyên được sao Vỹ
quản sơn, hay lấn át sao trì thế. Hợp tính từ bản sơn luân chuyển những năm
tiếp theo đi thuận đến Đinh Dậu 6 vòng là thấy tai họa ngay lập tức. Vậy sách
có ghi mấy câu thi ca:
“Kim tinh, Bích thủy, Du Tinh hiện
Tối hỷ kim ô, thăng bảo điện
Chính diện chư hầu bán diện Quân
Quý Dậu sinh nhân, thụ ấn quyền
Lục thập niên hậu cấp nghi thiên
Vỹ hỏa Hổ tinh, quả xuất hiện
Mã đầu Hỏa diệm chủng thiên Hồng
Phá Liễu Kim ô, thương Bảo Điện
Địa hình, thiên tượng, sát khí đồng
Đáo thử linh nhân vô nhãn kiến
Thiên cơ bí mật bất dong thức
Địa ký lầu Vi Thiên cổ nghiệm”
Giải nghĩa: Kim tinh và sao Bích Thủy Du
hiện, rất mừng là thấy vầng kim ô (mặt trời) lên bảo điện, tức là làm Thừa
Tướng chính ở trước mặt là chư hầu Quốc, một nửa quyền hành là thay mặt vua.
Quý Dậu sinh ra người được ân hưởng phúc lớn. Nhưng sau 60 năm phải cấp tốc dời
mộ đi chỗ khác, bởi sao Vỹ là Hỏa Hổ sẽ xuất hiện, tức là lửa ở đầu ngọn bốc cháy
đỏ rực trời, phá tan vầng kim ô và tòa bảo điện. Sát khí ở địa hình cũng như
sát khí ở thiên tượng. Đến lúc đó mới biết là mắt người thường không thể thấy
được. Sự bí mật của Thiên cơ chẳng dễ mà biết trước. Nhà địa lý ghi để lại cho
ngàn đời kinh nghiệm mà xem.
Đó là nói: phương vị của loan đầu chịu
khắc, mà sao trì thế lai chịu thôn hãm (lấn áp nuốt mất). Những cầm tinh ở
trong mười hai chi Thăng Điện, Nhập Viên, là sao Đại cát của huyệt, lai nên
cùng với sao của phương Thủy lai là tương sinh hay tỷ hòa thì mới tốt lành.
Phương pháp, thì lấy 2 sao tàng ẩn ở dưới Long thấu địa, dùng địa bàn tìm lấy 4
sao cát của Sa Thủy, cầm tinh trì thế, làm Thấu địa Long nạp âm, là trong ngoài
cùng nhau. Lại phải xét tới cái hỗn thiên độ tương khắc, chính là quan sát đó,
nên cẩn thận xem kỹ lắm mới được. Bốn sao tốt lành là: Kim, Thủy, Nhật,
Nguyệt, đó là tứ tú hội hợp 1 chỗ, nên gọi là "Hỗn thiên khai bảo chiếu,
Kim Thủy Nhật Nguyệt phùng".
BỔ TÚC VỀ YẾU QUYẾT CỦA CÁC QUẺ
ĐỘN, TỨ CÁT CẦM TINH
Bài quyết ca:
Dục tri Tứ cát, hội hà cục
Hư nhị, quỷ tứ, tầm Cơ lục
Tất tại bản cung, Đê tại Tam
Khuê ngũ, Dực thất, tương kế lục
Thức
đắc âm, dương thuận nghịch tâm
Ngã kim lập pháp kham truyền thuật
Dương độn tiên tiến, thuận vị
Âm độn thoái cung nghịch vị
Giải nghĩa: Muốn biết 4 sao lãnh hội ở
cục nào thì: Sao Hư ở cung thứ 2, sao Quỹ ở cung 4, sao Cơ ở
cung 6, sao Tất ở bản cung, sao Đê ở
cung 3, sao Khuê ở cung 5, sao Dực ở cung 7 nối tiếp nhau. Phải biết phép thuận
nghịch của âm dương mới tìm được. Nay tôi lập pháp truyền lại cho biết là: Quẻ
độn là dương thì tiến về phía trước mặt, đi thuận vị; quẻ độn là âm thì lùi lại
về cung đằng sau, chuyển ngược lại đi
BỔ TÚC PHÉP KHỞI ĐỘN TỨ CÁT TÚ, TRONG
THẤT DIỆU (7 SAO) Ở HÀO TRÌ THẾ
Phiên âm bài quyết ca:
Thất diệu cầm tinh, hội giả hy
Nhật Hư, Nguyệt Quỷ, Hỏa tòng Cơ
Thủy Tất, Mộc Đê, Kim Khuê vị
Tứ thổ du tòng Dực tú suy
Nghĩa là: 7 vị cầm tinh thì ít khi hội
hợp, Nhật là sao Hư, Nguyệt là sao Quỷ, Hỏa là sao Cơ, Thủy là sao Tất, Mộc là
sao Đê, Kim là sao Khuê, 4 vị Thổ thì theo sao Dực mà suy tìm.
LỤC
GIÁP QUẢN TÚ THI
Giáp Tý Giác hề, Giáp Tuất Hư
Giáp Thân Sâm vị, Ngọ phùng Đê
Giáp Thìn sao Thất, Dần phùng Quỷ
Thử thị lục Giáp khởi tú thi
Nghĩa là: Giáp Tý thì sao Giác, Giáp Tuất
sao Hư, Giáp Thân sao Sâm, Giáp Ngọ sao Đê quản, Giáp Thìn sao Thất, Giáp Dần
sao Quỷ. Đó là bài thơ của 6 Giáp khởi sao quản cục.
BỔ TÚC VỀ SAO QUẢN CỤC CỦA 24 HUYỆT CHÂU
BẢO
Bính Tý sao Thất, Đinh Sửu sao Bích
Mậu Dần sao Khuê, Kỷ Mão sao Lâu
Canh Thìn sao Vị, Tân Tỵ sao Mão
Nhâm Ngọ sao Tất, Quý Mùi sao Chủy
Giáp Thân sao Sâm, Ất Dậu sao Tĩnh
Bính Tuất sao Quỷ, Đinh Hợi sao Liễu
Canh Tý sao Ngưu, Tân Sửu sao Nữ
Nhâm Dần sao Hư, Quý Mão sao Nguy
Giáp Thìn sao Thất, Ất Tị sao Bích
Bính Ngọ sao Khuê, Đinh Mùi sao Lâu
Mậu Thân sao Vị, Kỷ Dậu sao Mão
Canh Tuất sao Tất, Tân Hợi sao Chủy
NHỊ THẬP BÁT TÚ TỨ CÁT BẢO CHIÊU THỨC

